Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2025/DS-ST

Ngày: 25/6/2025

“V/v: Tranh chấp kiện đòi tài sản”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lưu Thị Tuyết Nhung

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Đức Phú

Bà Nguyễn Thị Liên

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Hà Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 195/2025/TLST-DS ngày 10 tháng 4 năm 2025 về “Tranh chấp kiện đòi tài sản".

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-DS ngày 03/6/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 62/2025/QĐST-DS ngày 20/6/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1981; Địa chỉ: Tổ A, khu K, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Có mặt)

Bị đơn: Ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1980; Địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Toà án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày như sau:

Bà Nguyễn Thị X có mối quan hệ quen biết xã hội với ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1980; địa chỉ: Khu T, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh nên ông P có hỏi vay tiền của bà để ông P làm ăn kinh doanh. Do tin tưởng nên ngày 01/3/2016 bà X có cho ông Nguyễn Văn P vay số tiền là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng), ông P có viết giấy vay tiền cho bà và hẹn đến ngày 20/3/2016 sẽ hoàn trả số tiền này. Hai bên không thỏa thuận trả lãi. Tuy nhiên từ sau ngày 20/3/2016 cho đến nay, bà X có nhiều lần đòi tiền nhưng ông P trốn tránh cố tình không trả. Từ đó cho đến nay hơn 08 năm, ông P vẫn chưa trả một đồng tiền nào cho bà X.

Do vậy, bà Nguyễn Thị X làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh giải quyết: Buộc ông Nguyễn Văn P hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền đã vay là 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng). Ngoài ra, bà X không có yêu cầu hay đề nghị nào khác.

* Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Nguyễn Văn P. Tuy nhiên, ông P không đến Tòa án làm việc, không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X.

Tòa án đã tiến hành xác minh với ông Triệu Ngọc H – Trưởng khu T, phường K; ông H cho biết: Anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1980, có hộ khẩu thường trú và hiện nay đang cư trú tại khu T, phường K, thành phố B.

Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày, tranh luận giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Buộc ông Nguyễn Văn P hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền đã vay là: 100.000.000 đồng. Ngoài ra, không có yêu cầu nào khác.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ pháp luật tố tụng và nguyên đơn chấp hành pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đảm bảo đúng quy định pháp luật.

Bị đơn đã không chấp hành theo Giấy triệu tập của Tòa án, không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng quy định tại Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 255, 256, 280, 281 Bộ luật dân sự 2005; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc ông Nguyễn Văn P phải trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền là 100.000.000 đồng.

Về án phí: Bị đơn chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp:

Nguyên đơn khởi kiện đòi bị đơn phải trả số tiền đã vay. Do đó, Tòa án thụ lý, giải quyết trong phạm vi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác định quan hệ tranh chấp vụ án là “Tranh chấp kiện đòi tài sản” là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 26 Bộ luật dân sự.

[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết:

Vụ án tranh chấp có bị đơn cư trú tại phường K, thành phố B nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Về sự vắng mặt của bị đơn:

Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.4] Về thời hiệu khởi kiện:

Nguyên đơn khởi kiện tranh chấp quyền sở hữu thuộc trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện. Đồng thời, các đương sự trong vụ án không có yêu cầu áp dụng thời hiệu theo quy định tại khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn hoàn trả số tiền đã vay là 100.000.000 đồng:

Ngày 01/3/2016, ông Nguyễn Văn P vay của bà Nguyễn Thị X số tiền là 100.000.000 đồng, thời hạn hoàn trả số tiền là 20/3/2016, không thỏa thuận lãi suất. Khi vay ông P có viết giấy vay tiền và ký tên người vay. Tuy nhiên, khi đến hết hạn trả tiền, bà X đã nhiều lần đòi nhưng ông P không trả tiền cho bà X. Bà X khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông P hoàn trả cho bà số tiền đã vay là 100.000.000 đồng. Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện, bà X cung cấp cho Tòa án 01 giấy vay tiền bản gốc do ông Nguyễn Văn P viết và ký tên.

Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án đã triệu tập bị đơn lên làm việc, tống đạt các giấy tờ, thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật nhưng bị đơn đều không chấp hành và từ bỏ quyền tố tụng của mình. Tòa án căn cứ các tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp theo quy định tại Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự để xem xét giải quyết vụ án.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ thể hiện ông Nguyễn Văn P có vay của bà Nguyễn Thị X số tiền là 100.000.000 đồng, thời hạn trả tiền là ngày 20/3/2016. Đến nay đã hết thời hạn trả tiền nên bà X có quyền đòi lại số tiền ông P đã vay theo quy định tại Điều 166 Bộ luật dân sự 2015.

Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn hoàn trả số tiền đã vay là 100.000.000 đồng.

[3] Về án phí:

Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định là: 100.000.000 đồng x 5% = 5.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 147, 184, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 255, 256, 280, 290 Bộ luật dân sự năm 2005; các Điều 155, 164, 166, 280 Bộ luật dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị X.

    Buộc ông Nguyễn Văn P phải trả cho bà Nguyễn Thị X số tiền đã vay là 100.000.000 đồng (Bằng chữ: Một trăm triệu đồng).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  2. Về án phí: Ông Nguyễn Văn P phải chịu 5.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà Nguyễn Thị X 2.500.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số 0000342 ngày 09/4/2025 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Đào Đức Phú

Lưu Thị Tuyết Nhung

Nguyễn Thị Liên

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP Bắc Ninh;
  • - Chi cục THADS TP Bắc Ninh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lưu Thị Tuyết Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/DS-ST ngày 25/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về tranh chấp kiện đòi tài sản

  • Số bản án: 37/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp kiện đòi tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Kiện đòi tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger