TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/DS-ST
Ngày: 21/02/2025
V/v tranh chấp “Hợp đồng góp hụi”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà ÂU THỊ THẢO
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông NGUYỄN VĂN BỘ
- Bà AU THỊ NGỌC HOA
- Thư ký phiên tòa: Ông HỨA QUỐC THÁI - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên toà: Ông HUỲNH PHƯƠNG HUY - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Bè xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 477/2024/TLST–DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 421/2024/QĐXXST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 29/2025/TB-TA ngày 4/2/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà NGUYỄN THỊ BÉ B, sinh năm 1965 (có mặt)
- Bị đơn: Bà VÕ THỊ MỸ L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Mỹ Th A, xã Mỹ Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G
Ông HỒ THANH V, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Mỹ H, xã Mỹ Tr, huyện Cái B, tỉnh Tiền G
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và lời khai tại Toà của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bé B trình bày:
Bà là hụi viên có tham gia các dây hụi mà vợ chồng chị L và anh V làm chủ hụi cụ thể như sau:
Dây hụi mùa khui ngày 10/01/2023 âm lịch, hụi tiền một phần hụi là 5.000.000 đồng, hụi 03 tháng khui 1 lần, số người tham gia là 13 người, có 13 phần, bà tham gia 01 phần tên của bà trong các danh sách chơi hụi là 10 Chề. Bà có đóng hụi sống cho vợ chồng bị đơn được 06 lần. Đến tháng 6/2024 âm lịch thì bị đơn tuyên bố bể hụi, hụi này chưa mãn. Bà xác định bà đóng hụi hàng tháng cho bị đơn với số tiền là 4.000.000 đồng. Dây hụi này bị đơn nợ của bà số tiền là 24.000.000 đồng.
Dây hụi tháng khui ngày 10/02/2023 âm lịch, hụi tiền một phần hụi là 2.000.000 đồng, số người tham gia là 18 người, có 18 phần, bà tham gia 01 phần tên của bà trong các danh sách chơi hụi là 10 Chề. Bà có đóng hụi sống cho vợ chồng bị đơn được 16 lần. Đến tháng 6/2024 âm lịch thì bị đơn tuyên bố bể hụi, hụi này chưa mãn. Bà xác định bà đóng hụi hàng tháng cho bị đơn với số tiền là 1.600.000 đồng. Dây hụi này bị đơn nợ của bà số tiền là 25.600.000 đồng. Dây này bà yêu cầu hốt ở kỳ thứ 17 nhưng bị đơn không giao tiền hụi cho bà.
Dây hụi tháng khui ngày 10/05/2023 âm lịch, hụi tiền một phần hụi là 2.000.000 đồng, số người tham gia là 15 người, có 15 phần, bà tham gia 01 phần tên của bà trong các danh sách chơi hụi là 10 Chề. Bà có đóng hụi sống cho vợ chồng bị đơn được 14 lần. Đến tháng 6/2024 âm lịch thì bị đơn tuyên bố bể hụi, hụi này chưa mãn. Bà xác định bà đóng hụi hàng tháng cho bị đơn với số tiền là 1.600.000 đồng. Dây hụi này bị đơn nợ của bà số tiền là 22.400.000 đồng.
Dây hụi tháng khui ngày 10/11/2023 âm lịch, hụi tiền một phần hụi là 2.000.000 đồng, số người tham gia là 13 người, có 13 phần, bà tham gia 01 phần tên của bà trong các danh sách chơi hụi là 10 Chề. Bà có đóng hụi sống cho vợ chồng bị đơn được 06 lần. Đến tháng 6/2024 âm lịch thì bị đơn tuyên bố bể hụi, hụi này chưa mãn. Bà xác định bà đóng hụi hàng tháng cho bị đơn với số tiền là 1.600.000 đồng. Dây hụi này bị đơn nợ của bà số tiền là 9.600.000 đồng.
Dây hụi tháng khui ngày 10/04/2024 âm lịch, hụi tiền một phần hụi là 2.000.000 đồng, số người tham gia là 16 người, có 16 phần, bà tham gia 01 phần tên của bà trong các danh sách chơi hụi là 10 Chề. Bà có đóng hụi sống cho vợ chồng bị đơn được 03 lần. Đến tháng 6/2024 âm lịch thì bị đơn tuyên bố bể hụi, hụi này chưa mãn. Bà xác định bà đóng hụi hàng tháng cho bị đơn với số tiền là 1.600.000 đồng. Dây hụi này bị đơn nợ của bà số tiền là 4.800.000 đồng.
Dây hụi tháng khui ngày 10/04/2023 âm lịch, hụi tiền một phần hụi là 2.000.000 đồng, số người tham gia là 16 người, có 16 phần, bà tham gia 01 phần tên của bà trong các danh sách chơi hụi là 10 Chề. Bà có đóng hụi sống cho vợ chồng bị đơn được 03 lần. Đến tháng 6/2024 âm lịch thì bị đơn tuyên bố bể hụi, hụi này chưa mãn. Bà xác định bà đóng hụi hàng tháng cho bị đơn với số tiền là 1.600.000 đồng. Dây hụi này bị đơn nợ của bà số tiền là 4.800.000 đồng.
Tổng số tiền bà đóng hụi sống cho bị đơn tổng 06 dây là 91.200.000 đồng. Bà xác định chưa hốt ở các dây hụi mà bà tham gia chơi với bị đơn
Nay bà yêu cầu bị đơn anh V, chị L phải trả cho bà số tiền tổng cộng là 91.200.000 đồng yêu cầu trả làm một lần sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn ông Hồ Thanh V và bà Võ Thị Mỹ L không có văn bản ý kiến và vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi ở 02 dây hụi khui vào ngày 10/4/2024 âm lịch và chỉ yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi là 80.000.000 đồng. Bị đơn vắng mặt không lý do.
Ý kiến của kiểm sát viên tại phiên tòa: Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật của Thẩm phán, của Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Từ những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, danh sách hụi viên, lời khai của người chứng kiến là bà Dương Thị Liền, bà Lê Thị Diễm; phía bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng không cung cấp các tài liệu có liên quan đến nội dung vụ án nên có căn cứ xác định việc bà B có tham gia chơi 04 dây hụi trên là 80.000.000 đồng, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bà Võ Thị Mỹ L, ông Hồ Thanh V trả cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền 80.000.000 đồng. Riêng đối với hai dây hụi mở ngày 10/4/2023 âm lịch bà B đã rút lại yêu cầu khởi kiện, xét thấy việc rút yêu cầu khởi kiện đối với 02 dây hụi trên là đúng quy định nên đình chỉ xét xử đối với yêu cầu giải quyết 02 dây hụi trên. Căn cứ Điều 280, Điều 351 Bộ luật dân sự, Điều 92, 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 23 Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường đề xuất: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà B buộc bà Võ Thị Mỹ L, ông Hồ Thanh V trả cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền 80.000.000 đồng đối với các dây hụi mà bà B tham gia mở vào các ngày 10/01/2023 âm lịch, ngày 10/02/2023 âm lịch, ngày 10/5/2023 âm lịch, ngày 10/11/2023 âm lịch; đình chỉ xét xử đối với yêu cầu giải quyết 02 dây hụi mở ngày 10/04/2024 âm lịch.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
[1] Về tố tụng:
Tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Bé B và ông Hồ Thanh V và bà Võ Thị Mỹ L là tranh chấp “Hợp đồng góp hụi” theo quy định tại Điều 471 của Bộ luật dân sự.
Bà Võ Thị Mỹ L và ông Hồ Thanh V vắng mặt không rõ lý do mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ theo quy định tại các Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt.
Tại phiên tòa nguyên đơn xin rút lại một phần yêu cầu khởi kiện không yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi ở 02 dây hụi khui vào ngày 10/4/2024 âm lịch và chỉ yêu cầu bị đơn trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi là 80.000.000 đồng. Đây là sự nguyện của đương sự và quyên tự định đoạt của đương sự phù hợp theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử ghi nhận và đình chỉ xét xử một phần yêu cầu khởi kiện mà nguyên đơn đã rút.
[2] Về nội dụng vụ kiện:
Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Bởi lẽ, nguyên đơn có đơn yêu cầu Tòa án tiến hành ghi lời khai các nhân chứng xác định nguyên đơn có tham gia chơi các dây hụi do bị đơn làm đầu thảo hụi nhưng nguyên đơn chưa được hốt hụi. Do đó, bị đơn phải có nghĩa vụ hoàn lại cho nguyên đơn số tiền đúng theo các kỳ khui hụi mà nguyên đơn đã đóng nhưng bị đơn không thực đúng là vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn. Thêm vào đó, trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, thông báo thụ lý và các tài liệu chứng cứ cho bị đơn, đồng thời tống đạt các văn bản tố tụng cho phía bị đơn bà Võ Thị Mỹ L và ông Hồ Thanh V theo quy định của pháp luật thông báo về việc nguyên đơn khởi kiện nhưng phía bị đơn vắng mặt không lý do và không cung cấp ý kiến lời khai đối với vụ kiện xem như phía bị đơn tự từ bỏ quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Xét thấy phía bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gây thiệt thòi quyền lợi cho phía nguyên đơn. Từ đó, xác định việc bị đơn còn nợ tiền hụi của nguyên đơn và hiện còn thiếu nợ lại nguyên đơn số tiền nợ hụi là 80.000.000 đồng là có thật theo quy định tại Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự và Tòa án có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn phải có trách nhiệm trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi là 80.000.000 đồng là có căn cứ, phù hợp theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về án phí:
Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[4] Xét ý kiến phát biểu của vị đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 26, Điều 35; Điều 92, Điều 235, Điều 266, Điều 267 và Điều 271, Điều 273, Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Căn cứ Điều 471 Bộ luật Dân sự;
- - Nghị định 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường;
- - Căn Cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé B.
- - Buộc bà Võ Thị Mỹ L và ông Hồ Thanh V có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền nợ hụi là: 80.000.000 đồng.
- - Kể từ ngày bà B có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà L, ông V chậm thi hành đối với phần tiền nợ nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại điều 357, khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- - Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn liên đới trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi tại 02 dây hụi ngày 10/4/2024 âm lịch.
Về án phí:
- - Bà Võ Thị Mỹ L và ông Hồ Thanh V phải chịu 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền 2.850.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015871 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.
Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ ÂU THỊ THẢO |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA V NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 21 tháng 02 năm 2025
Tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cái Bè
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Âu Thị Thảo
Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Văn Bộ
+ Bà Âu Thị Ngọc Hoa
Tiến hành nghị án vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 478/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 10 năm 2024 giữa:
- Nguyên đơn: Bà NGUYỄN THỊ BÉ B, sinh năm 1965 (có mặt)
- Bị đơn: Bà VÕ THỊ MỸ L, sinh năm 1984 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Mỹ Thị A, xã Mỹ Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Ông HỒ THANH V, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: ấp Mỹ Hòa, xã Mỹ Trung, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, kết quả tranh tụng tại phiên toà, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT,
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU
Căn cứ các điều 26, 35, 92, 235, 266, 267, 271, 227, 228 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Căn cứ vào các điều 471 Bộ luật dân sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi, biêu, phường.
Xử:
- - Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bé B.
- - Buộc bà Võ Thị Mỹ L và ông Hồ Thanh V có trách nhiệm trả cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền nợ hụi là: 80.000.000 đồng.
- - Kể từ ngày bà B có đơn yêu cầu thi hành án nếu bà L, ông V chậm thi hành đối với phần tiền nợ nêu trên thì còn phải chịu thêm tiền lãi suất theo mức lãi suất quy định tại điều 357, khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
- - Đình chỉ xét xử đối với một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn liên đới trả cho nguyên đơn số tiền nợ hụi tại 02 dây hụi ngày 10/4/2024 âm lịch.
Về án phí:
- - Bà Võ Thị Mỹ L và ông Hồ Thanh V phải chịu 4.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Hoàn lại cho bà Nguyễn Thị Bé B số tiền 2.850.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0015871 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cái Bè.
Về quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nghị án kết thúc vào hồi....giờ....phút, ngày 21 tháng 02 năm 2025.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 37/2025/DS-ST ngày 21/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về hợp đồng góp hụi
- Số bản án: 37/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hợp đồng góp hụi
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà B yêu cầu vợ chồng chị L, anh V trả tiền nợ hụi
