|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2025/DS-ST Ngày: 19/03/2025 V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Đoàn Hồng Hải
- 2/ Ông Lâm Văn Vô
- Thư ký phiên toà: Ông Phan Văn Dần – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 5.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 5 tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Phương – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 03 năm 2025 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 243/2024/DSST ngày 05 tháng 11 năm 2024 về “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2025/QĐXXST-DS ngày 18 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2025/QÐST-DS ngày 07 tháng 03 năm 2025.
Nguyên đơn: Ngân hàng T1 (gọi tắt là Ngân hàng S)
Trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật là bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn là Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng T1 (Công ty S1) (người đại diện theo pháp luật là ông Lê Ngọc T - Chức vụ Tổng Giám đốc) (Theo Giấy uỷ quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Người đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản ngân hàng T1 (Công ty S1) là ông Nguyễn Thành N (theo Giấy uỷ quyền số 2949/2024/UQ-TGĐ ngày 06/05/2024)
Địa chỉ liên lạc: Lầu 6, số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh C, sinh năm 1995 (vắng mặt)
Địa chỉ: Số H, N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện đề ngày 21/10/2024, các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Huy H trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) và ông Nguyễn Thanh C thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP T1 có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), loại thẻ tín dụng VS payWave C1 hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.48%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Đến ngày 19/10/2022, ông C thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S với số tiền giải ngân là 27.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.768 %/tháng.
Đối với thẻ tín dụng V, trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông C chưa thanh toán bất kỳ số tiền nào cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 06/03/2023, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 3.541.011 đồng sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành thẻ tín dụng của Ngân hàng) và áp dụng lãi suất là 2.48%/tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%. Tính đến ngày 19/03/2025, ông C còn nợ S tổng số tiền 6.801.383 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm không nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng). Trong đó bao gồm nợ gốc là 3.541.011 đồng, lãi quá hạn là 3.260.372 đồng.
Đối với K vay tiêu dùng S giải ngân qua số tài khoản, trong quá trình từ ngày giải ngân số tiền 27.000.000 đến nay, ông C chưa thanh toán bất kỳ số tiền nào cho Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông C vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông C vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 26/02/2023, S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu tại thời điểm này là 29.478.600 đồng sang nợ quá hạn (Điều 5 của Bản điều khoản và điều kiện vay tiêu dùng trên ứng dụng S) và áp dụng lãi suất là 2.768 %/tháng trên số tiền nợ quá hạn này nhân 150%. Tính đến ngày 19/03/2025, ông C còn nợ S tổng số tiền 60.199.494 đồng (Sáu mươi triệu một trăm chín mươi chín ngàn bốn trăm chín mươi bốn đồng). Trong đó bao gồm nợ gốc là 29.478.600 đồng, lãi quá hạn là 30.720.894 đồng.
Do đó, S khởi kiện yêu cầu ông C phải thanh toán làm một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/03/2025 là 67.000.877 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng) trong đó:
- Đối với thẻ tín dụng VS V
+ Nợ gốc: 3.541.011 đồng
+ Lãi quá hạn: 3.260.372 đồng
Tổng cộng: 6.801.383 đồng.
- Đối với khoản vay tiêu dùng S giải ngân qua số tài khoản
+ Nợ gốc: 29.478.600 đồng
+ Lãi quá hạn: 30.720.894 đồng
Tổng cộng: 60.199.494 đồng.
Ngoài ra, ông C còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn – ông Nguyễn Thanh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhưng không đến tòa làm việc trong suốt quá trình giải quyết vụ án, không có lý do nên không có ý kiến trình bày.
Tại phiên toà sơ thẩm,
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 18/02/2025. Đại diện ủy quyền của nguyên đơn có bản tự khai và Tóm tắt sao kê xác định số nợ mà ông C phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng S tính đến ngày xét xử sơ thẩm 19/03/2025 là 67.000.877 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm không nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 3.541.011 đồng, lãi quá hạn là 3.260.372 đồng (tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc nhân với lãi suất quá hạn là 3,723 %/tháng) đối với thẻ tín dụng VS V và nợ gốc là 29.478.600 đồng, lãi quá hạn là 30.720.894 đồng đối với K vay S. Ngoài ra, ông Nguyễn Thanh C còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Bị đơn vắng mặt nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 5 phát biểu quan điểm:
- - Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án.
- - Về nội dung vụ án: Đề nghị Toà án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S, buộc ông Nguyễn Thanh C thanh toán tổng số tiền là 67.000.877 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm không nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 3.541.011 đồng, lãi quá hạn là 3.260.372 đồng đối với thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback và nợ gốc là 29.478.600 đồng, lãi quá hạn là 30.720.894 đồng đối với K vay S. Thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, ông Nguyễn Thanh C còn phải chịu tiền lãi phát sinh từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng. Án phí ông C chịu theo quy định pháp luật. Nguyên đơn được hoàn lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án :
Nguyên đơn là Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (S) khởi kiện, yêu cầu ông Nguyễn Thanh C trả tiền nợ theo hợp đồng tín dụng thẻ. Trên hợp đồng thẻ ghi địa chỉ bị đơn tại Số H, N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh của Công an P, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện “ông C có đăng ký thường trú tại địa chỉ trên nhưng không thực tế cư trú tại địa phương”. Tuy nhiên, khi thực hiện hợp đồng vay, ông C đã cung cấp sổ hộ khẩu thể hiện ông đang cư trú tại địa chỉ số H, N, Phường F, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh cho ngân hàng và tại hợp đồng tín dụng ông C cũng đã ghi địa chỉ trên vào giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Như vậy, ông C là người đang phải thực hiện quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng thẻ với Ngân hàng S nhưng cung cấp địa chỉ cư trú không đúng hoặc đã chuyển nơi cư trú mà không thông báo cho Ngân hàng S nên thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/7/2017 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao. Do vậy, Toà án vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung và xác định đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh. Vụ án thuộc trường hợp Viện kiểm sát nhân dân tham gia phiên tòa theo khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự.
-
[2] Về tố tụng: Nguyên đơn là Ngân hàng S có đơn đề ngày 18/02/2025 đề nghị được vắng mặt khi Tòa án xét xử vụ án. Bị đơn là ông Nguyễn Thanh C đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định xét xử nhưng ông C vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
-
[3] Về yêu cầu của đương sự:
-
[3.1] Xét ông Nguyễn Thanh C đã ký Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 13/10/2022, loại thẻ tín dụng quốc tế VS payWave Cre Platinum Cashback, số thẻ: 436438-8426 với Ngân hàng S để vay khoản tiền là 30.000.000 đồng, Lãi suất áp dụng cho thẻ VS payWave Cre Platinum Cashback là 2.48%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn. Và ông C đã thực hiện đăng ký vay tiêu dùng ngày 19/10/2022, số thẻ 3844444186 trên ứng dụng S để tiêu dùng cá nhân với số tiền là 27.000.000 đồng, lãi suất áp dụng cho K vay tiêu dùng S Pay là 2.768%/tháng, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi trong hạn.
Theo Bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng S nộp cho Toà án, Hội đồng xét xử xác định ông C đã bắt đầu sử dụng thẻ tín dụng quốc tế VS V từ ngày 05/11/2022. Số tiền ông C đã giao dịch là 2.000.000 đồng. Số tiền ông C đã thanh toán là 0 đồng. Và Khoản vay S bắt đầu từ ngày 25/10/2022, số tiền ông C đã giao dịch là 27.000.000 đồng, số tiền đã thanh toán là 0 đồng. Các khoản tiền trên được thanh toán cho các khoản phí/lãi kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch rút tiền mặt kỳ trước và trong kỳ, các giao dịch mua hàng hóa kỳ trước và trong kỳ theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Do ông C đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 26/02/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng tài khoản số 3844444186 và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, dư nợ tại thời điểm này là 29.478.600 đồng làm nợ gốc. Và ngày 06/03/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ tín dụng quốc tế VS payWave Cre Platinum Cashback và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn, dư nợ tại thời điểm này là 3.541.011 đồng làm nợ gốc, lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất trong hạn. Việc ông C không thanh toán dư nợ thẻ tín dụng hàng tháng cho Ngân hàng S đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận đã ký, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng S.
Tính đến ngày 19/03/2025 Ngân hàng yêu cầu ông Nguyễn Thanh C phải trả cho Ngân hàng tổng số tiền là 67.000.877 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm không nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 3.541.011 đồng, lãi quá hạn là 3.260.372 đồng đối với thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback và nợ gốc là 29.478.600 đồng, lãi quá hạn là 30.720.894 đồng đối với K vay S. Ông C còn phải thanh toán khoản lãi phát sinh tính từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
Căn cứ vào bảng kê chi tiết giao dịch của khách hàng, bảng tóm tắt sao kê và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, có đủ cơ sở để chứng minh ông C đã được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng nêu trên, số tiền ông C thực hiện các giao dịch, số tiền đã thanh toán, ông C hiện còn nợ ngân hàng số tiền nợ gốc là 3.541.011 đồng và 29.478.600 đồng.
Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông C trả số nợ gốc trên là có căn cứ, phù hợp với các chứng cứ có trong hồ sơ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
-
[3.2] Về lãi suất: Quyết định số 2661/2022/QĐ-TTT ngày 28/10/2022 của Ngân hàng Thương mại cổ phần T1 về việc ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ T2 phát hành tại Việt Nam và Thông báo số 1311/2021/TB-TTT ngày 19/5/2021 về việc dịch vụ vay tiêu dụng trên S, quy định mức lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng quốc tế VS payWave Cre Platinum Cashback là 2,48%/tháng, lãi quá hạn tính bằng 150% lãi suất trong hạn (3,723%/tháng); mức lãi suất áp dụng đối với K vay S là 2.768 %/tháng, lãi quá hạn tính bằng 150% nhân với lãi suất trong hạn là 4.152 %/tháng).
Căn cứ vào Điều 24 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của S có thể hiện nội dung: «Việc không thanh toán ít nhất Số Tiền Tối Thiểu của Chủ Thẻ cho đến kỳ phát hành Thông Báo tiếp theo sẽ tạo nên sự vi phạm theo Hợp Đồng.....Khi vi phạm xảy ra, Chủ thẻ hiểu và đồng ý rằng Đơn Vị Phát Hành Thẻ có thể thực hiện một hoặc nhiều hành động sau :.. Chấm dứt quyền sử dụng thẻ và tiến hành việc thu hồi toàn bộ nợ. – Áp dụng lãi suất nợ quá hạn đối với toàn bộ Dư nợ theo quy định của Đ Phát Hành Thẻ»
Xét thấy, mức lãi suất trên do các bên tự nguyện thỏa thuận tại điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng phù hợp với quy định của pháp luật. Việc Ngân hàng áp dụng mức lãi suất trên có cơ sở để chấp nhận. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông C trả số nợ lãi quá hạn là 3.260.372 đồng và 30.720.894 đồng là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
-
[3.3] Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, để làm rõ khoản nợ nêu trên Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ ông C đến tòa để trình bày ý kiến. Ông C không có mặt tại Tòa án để cho lời khai hoặc nêu ý kiến về các khoản tiền gốc, tiền lãi đã thanh toán và các khoản phí mà S yêu cầu và vẫn vắng mặt được xem là ông C đã từ bỏ quyền trình bày, cung cấp chứng cứ, quyền tự bảo vệ lợi ích của mình trước tòa. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng S với số nợ gốc, nợ lãi quá hạn mà Ngân hàng S yêu cầu ông C phải trả.
-
[3.4] Từ các nhận định trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng S đối với khoản nợ của thẻ tín dụng số: 436438 - 8426 và tài khoản số: 3844444186 của ông C với tổng số tiền (tạm tính đến ngày 19/3/2025) là 67.000.877 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm không nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 3.541.011 đồng, lãi quá hạn là 3.260.372 đồng đối với thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback và nợ gốc là 29.478.600 đồng, lãi quá hạn là 30.720.894 đồng đối với K vay S. Ông Nguyễn Thanh C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Về thời hạn thanh toán: Từ tháng 10 năm 2022, ông C đã không thanh toán bất kì khoản tiền nào cho Ngân hàng S, làm ảnh hưởng đến quyền lợi của Ngân hàng S. Do vậy, cần buộc ông C thanh toán các khoản nợ làm một lần cho Ngân hàng S sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
-
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn là Ngân hàng S được chấp nhận nên bị đơn là ông C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn là Ngân hàng S
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 266; Điều 271; Điều 273; Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 463 và Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- - Căn cứ Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí tòa án.
- - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử :
-
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (gọi tắt là Ngân hàng S):
-
[1.1] Buộc ông Nguyễn Thanh C phải trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 tổng số tiền tạm tính đến ngày 19/03/2025 là 67.000.877 đồng (Sáu mươi bảy triệu không trăm không nghìn tám trăm bảy mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 3.541.011 đồng, lãi quá hạn là 3.260.372 đồng đối với thẻ tín dụng VS payWave Cre Platinum Cashback và nợ gốc là 29.478.600 đồng, lãi quá hạn là 30.720.894 đồng đối với K vay S theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP T1 có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 và khoản vay tiêu dùng S. Ông Nguyễn Thanh C có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 20/03/2025 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.
Việc giao nhận tiền do hai bên tự thực hiện hoặc tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
-
[1.2]. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
-
-
Về án phí dân sự sơ thẩm:
-
[2.1]. Ông Nguyễn Thanh C chịu 3.350.044 đồng (Ba triệu ba trăm năm mươi ngàn không trăm bốn mươi bốn đồng).
-
[2.2]. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 số tiền 1.117.794 đồng (Một triệu một trăm mười bảy nghìn bảy trăm chín mươi bốn đồng) theo Biên lai thu số 0036396 ngày 30/10/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh.
-
-
Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 và ông Nguyễn Thanh C vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7, 7a và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Thanh Trang |
Bản án số 37/2025/DS-ST ngày 19/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 37/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 5 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng Thương mại Cổ phần T1 (sau đây gọi tắt là Ngân hàng S) và ông Nguyễn Thanh C thỏa thuận ký kết Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng TMCP T1 có hiệu lực từ ngày 29/11/2019 (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng), loại thẻ tín dụng VS payWave C1 hạn mức tín dụng là 30.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.48%/tháng (lãi suất trong hạn). Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông C đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 30.000.000 đồng. Đến ngày 19/10/2022, ông C thực hiện đăng ký vay tiêu dùng trên ứng dụng S với số tiền giải ngân là 27.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2.768 %/tháng.
