TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/DS-PT Ngày: 25/3/2025 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thu Từ
- Các Thẩm phán: bà Nguyễn Thị Thanh Nga và ông Nguyễn Quang Trung
- Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Lệ Huyền – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: bà Trần Thị Tâm – Kiểm sát viên.
Ngày 25/3/2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 117/2024/TLPT-DS ngày 02/12/2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2 1/2025/QĐXXPT-DS ngày 03/02/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: ông Lê Khắc T, sinh năm 1963 và bà Phạm Thị T1, sinh năm 1964. Cùng địa chỉ: thôn E, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; đều có mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của ông T, bà T1: ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1950; địa chỉ: xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- - Bị đơn: ông Trương T2 (Trương Văn T2), sinh năm 1958; địa chỉ: thôn E, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của bị đơn: ông Hoàng Văn D, sinh năm 1975; địa chỉ: số H, đường P, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Lê Khắc T3, sinh năm 1974; địa chỉ: thôn H, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; có mặt.
- + Ông Lê Khắc T4, sinh năm 1976; địa chỉ: xóm D, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn ông Trương Tăng .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn ông Lê Khắc T và bà Phạm Thị T1 thống nhất trình bày:
Vào năm 1998, vợ chồng ông bà cùng ông Lê Khắc T3 và ông Lê Khắc T4 có khai hoang 01 diện tích đất rừng khoảng 16.500m² tại khu vực Khe Cầu, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Năm 2002, ông Lê Khắc T3 và Lê Khắc T4 không làm nữa và để lại cho vợ chồng ông bà sản xuất. Theo bản đồ địa chính thì hiện nay thì thửa đất đó được tách ra làm 02 thửa gồm thửa số 45 và thửa số 46. Trong đó thửa đất số 45, tờ bản đồ số 08 diện tích là 4.032,2 m² và thửa đất số 46, tờ bản đồ số 08 diện tích 12.416,3 m². Ngày 03/6/2004 do ốm đau bệnh tật không có người làm nên vợ chồng ông bà đã cho ông Trương Tăng M tạm toàn bộ thửa đất nói trên để làm mía, lạc và trồng cây ngắn ngày. Sau đó ông Trương T2 đã chiếm dụng luôn thửa đất nói trên và nói là thửa đất của ông T2. Riêng thửa đất số 45, tờ bản đồ số 13 diện tích là 4.032,2m² sau này ông bà được biết ông Lê Khắc T3 đã bán cho ông Trương Tăng . Lúc ông T3 bán thì vợ chồng ông bà không biết. Tuy nhiên, ông T3 đã bán cho ông T2 rồi nên ông bà không yêu cầu ông T2 trả lại thửa đất này nữa.
Nay vợ chồng ông bà yêu cầu ông Trương Tăng T5 lại cho vợ chồng ông bà thửa đất số 46, tời bản đồ số 13, diện tích 12.416,3m² tại Khe Cầu, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Diện tích đất đang tranh chấp chỉ có vợ chồng ông bà và ông Trương Tăng tranh C1 với nhau không có ai tranh chấp nữa.
Tại biên bản hòa giải, cũng như tại phiên toà người đại diện theo uỷ quyền của ông T, bà T1 (ông Nguyễn Văn C): Cũng thống nhất như trình bày của ông T, bà T1 không có ý kiến bổ sung gì.
Bị đơn ông Trương T2 trình bày: Vào khoảng tháng 4/2001, ông có mua của ông Lê Khắc T3 01 thửa đất để sản xuất theo bản đồ địa chính là thửa đất số 13 tờ bản đồ số 46, diện tích là 10.541,3m² đo đạc năm 2018 (năm 2019 được xác định là thửa đất số 46, có diện tích là 12.416,3 m²) địa điểm từ giáp đất ông T, bà T1 bán cho ông D1 trở xuống khu vực đất không tranh chấp. Sau khi mua bán ông đã sự dụng đất ổn định từ đó cho đến nay, không có tranh chấp đã được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận đăng ký sử dụng đất theo luật Đất đai. Đối với diện tích đất ông mượn của ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 thì năm 2009 ông T, bà T1 đã lấy lại và bán cho ông Nguyễn Xuân D1. Từ lúc bán đất cho ông D1 xong, đến năm 2016 thì các bên không có xảy ra tranh chấp kiện cáo gì đất của ai thì người đó làm. Đến năm 2017, khi có đường điện đi qua. Cơ quan Nhà nước có về làm thủ tục đền bù cho các hộ dân thì hai bên xảy ra tranh chấp.
Nay vợ chồng ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 yêu cầu ông trả lại cho vợ chồng ông T bà T1 thửa đất số 46, tờ bản đồ số 13 diện tích 12.416,3m² tại K, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An thì ông không nhất trí vì thửa đất trên ông đã mua của ông Lê Khắc T3 rồi.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Hoàng Văn D: Cũng thống nhất như trình bày của ông T2. Không không nhất trí trả lại đất cho vợ chồng ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 vì thửa đất trên ông Trương T2 đã mua của ông Lê Khắc T3.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Khắc T3 trình bày: Vào năm 1998, ông cùng với hai anh em là Lê Khắc T và Lê Khắc T4 vào khai hoang 01 diện tích đất tại K lúc khai hoang cũng không biết diện tích là bao nhiêu, sau khi khai hoang xong ông cùng với ông T và ông T4 đã trồng cây ngô, lạc, hòe trên diện tích đất trên. Đến năm 2002, thì ông không sử dụng sản xuất nữa mà để lại cho ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 trực tiếp quản lý sử dụng, sau đó ông T2 có đến hỏi mua đất của ông tại khu V, xã Q, do cả nể ông đã bán một phần diện tích đất của cả ba anh em khai hoang cho ông Trương Tăng H bên đã thống nhất với nhau là bán từ cây Tràu trở xuống. Lúc bán hai bên chỉ nói với nhau không có làm giấy tờ mua bán gì, ông bán cho ông T2 với giá tiền là 600.000đ (Sáu trăm ngàn đồng). Lúc ông bán cho ông T2 thì ông T, ông T4 không biết. Lúc đó ông chỉ bán diện tích đất từ cây Tràu trở xuống và có diện tích khoảng hơn 4.000m². Lúc bán cũng không đo diện tích cụ thể là bao nhiêu.
Việc ông T2 trình bày ông đã bán toàn bộ thửa đất nói trên cho ông T2 là không đúng, ông cũng không dám bán toàn bộ thửa đất nói trên vì thửa đất đó là đất khai hoang của cả ba anh em. Đối với diện tích đất còn lại của 03 anh em thì ông cũng thống nhất để lại cho ông T, bà T1 trực tiếp quản lý sử dụng và ông cũng không có yêu cầu gì đối với diện tích đất còn lại này.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Khắc T4 trình bày: Vào năm 1998, ông cùng với hai anh trai là Lê Khắc T và Lê Khắc T3 vào khai hoang 01 diện tích đất tại K lúc khai hoang cũng không biết diện tích là bao nhiêu, sau khi khai hoang xong ông cùng với ông T và ông T3 đã trồng cây ngô, lạc, hòe. Đến năm 2002, do trâu bò vào phá nhiều quá, làm ăn cũng không ăn thua nên ông không sử dụng sản xuất nữa mà để lại cho ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 trực tiếp quản lý sử dụng cho đến nay. Việc ông T3 bán đất cho ông T2 thì ông hoàn toàn không biết. Đối với diện tích đất ông T3 bán cho ông T2. Do ông T3 bán rồi nên ông cũng thống nhất để ông T3 bán cho ông T2 mà không có ý kiến gì đối với diện tích đất này. Đối với diện tích đất còn lại của 03 anh em thì ông cũng thống nhất để lại cho ông T, bà T1 trực tiếp quản lý sử dụng và ông cũng không có yêu cầu gì đối với diện tích đất này.
Người làm chứng ông Nguyễn Xuân D1 trình bày: Năm 2008, ông có mua của vợ chồng ông T, bà T1 thửa đất số 92, tờ bản đồ số 01 tại vùng K, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Gia đình ông đã sử dụng ổn định từ năm 2008 cho đến nay, có ranh giới cụ thể với các thửa đất giáp ranh, không có tranh chấp với hộ gia đình nào. Thời điểm ông mua thửa đất số 92 tờ bản đồ số 01 tại vùng K, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An với vợ chồng ông T, bà T1 có một phần diện tích đất trồng sắn trước đó có cho vợ chồng ông Trương Tăng M trồng cây hàng năm. Sau đó lấy lại bán cho ông ước lượng khoảng 6000m². Tuy nhiên phần đất ông T, bà T1 lấy lại của ông T2 bán cho ông hoàn toàn không nằm trong phần diện tích đang tranh chấp giữa ông T, bà T1 với ông T2. Việc mua bán đất giữa ông T3 với ông T2 thì ông không biết. Diện tích đất ông mua cũng như các hộ dân xung quanh nếu không có tranh chấp sử dụng ổn định lâu dài thì có thể đề nghị Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Những người làm chứng ông Phạm Văn H1, ông Vũ Công H2, ông Lê Đăng C2, ông Trần Mật T6, ông Trần N, ông Lê Khắc H3 thống nhất trình bày: Các ông đều có thời gian khai hoang trồng trọt tại khu vực Khe Cầu, xã Q, các ông đều thống nhất khẳng định nguồn gốc đất đang tranh chấp là do ông T, bà T1, ông T3 và ông T4 khai hoang. Việc mua bán đất cụ thể giữa ông T, bà T1 với ông Nguyễn Xuân D1, giữa ông T3 và ông Tăng thế N1 thì các ông không biết.
Tại Biên bản xác minh ngày 14/8/2024 tại UBND xã Q do ông Lê Đăng H4, công chức địa chính xã Q cung cấp:
Thửa đất số 45 và 46 tờ bản đồ số 08 (bản đồ địa chính số) tức nằm một phần trong thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01 (bản đồ lâm nghiệp). Được gia đình ông T, ông T4, ông T3 khai hoang sản xuất trước năm 1995. Khoảng năm 2000 đến năm 2001 thì ông T3 có bán một phần diện tích đất cho ông Trương T2, phần diện tích ông T quản lý có thời điểm chuyển cho ông T2 sử dụng, sản xuất (Không rõ việc chuyển nhượng hay cho mượn đất).
Thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01 (bản đồ lâm nghiệp) là do các hộ gia đình tự khai hoang sản xuất không phải là đất của UBND xã Q quản lý, các hộ gia đình được phép sử dụng. Hiện nay, khu vực đất này phù hợp với quy hoạch sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất nếu không có tranh chấp và sử dụng ổn định lâu dài.
Theo bản đồ địa chính thì thửa đất tranh chấp giữa ông T, bà T1 với ông T2 thuộc một phần thửa đất số 90, tờ bản đồ số 01, hiện nay chưa có ai đứng tên chủ sử dụng.
Việc mua bán đất giữa ông Lê Khắc T3 và ông Trương T2 vào khoảng năm 2001 là do tự các bên thực hiện việc mua bán với nhau, không thông qua chính quyền địa phương.
Thửa đất số 45 và 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q được chỉnh lý từ thửa đất số 13 tờ bản đồ số 08 (bản đồ địa chính số).
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai đã quyết định: Áp dụng các Điều 200, 255 và 256 của Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 166, 170, 179, 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 9 Điều 26; 35, 39, Điều 147, 157, 158, 165, 166, 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 đối với bị đơn ông Trương T2 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Tạm giao cho ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 diện tích đất đang tranh chấp tại thửa đất số 46, tờ bản đồ số 08, tại khu vực K, xã Q là 12.416,3m² và các tài sản trên đất. Ông T, bà T1 có trách nhiệm phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Buộc ông Trương T2 phải trả lại cho ông Lê Khắc T và bà Phạm Thị T1 diện tích 12.416,3m² đất tại thửa đất số 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q, được giới hạn bởi các điểm nối (từ M1 đến M21). (Có sơ đồ chi tiết kèm theo).
Ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1 có trách nhiệm trả lại cho ông Trương Tăng S tiền 6.239.000 đồng tương đương giá trị tài sản trên đất.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 20/9/2024 ông Trương T2 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị cấp phúc thẩm xét xử lại theo hướng bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và các đương sự đã chấp hành theo đúng trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trương Tăng . Áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Các đương sự được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nên Tòa án đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn, thấy rằng:
[2.1] Nguồn gốc thửa đất số 45 và thửa đất số 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích 4.032,2m² và 12.416,3m² là do ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1, ông Lê Khắc T3, ông Lê Khắc T4 cùng nhau khai hoang. Việc này đã được ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1, ông Lê Khắc T3, ông Lê Khắc T4, UBND xã Q và những người làm chứng xác nhận. Do đó có thể khẳng định nguồn gốc thửa đất số 45 và thửa đất số 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích 4.032,2m² và 12.416,3m² là do ông Lê Khắc T, bà Phạm Thị T1, ông Lê Khắc T3, ông Lê Khắc T4 cùng nhau khai hoang.
[2.2] Đối với thửa đất số 45 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích 4.032,2m² ông Lê Khắc T3 khai đã bán cho ông Trương T2, lúc ông T3 bán, thì ông T, ông T4, bà T1 không biết. Tuy nhiên trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà ông T, bà T1, ông T4 không yêu cầu giải quyết đối với thửa đất này nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Đối với thửa đất số 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích 12.416,3m² nguyên đơn ông T, bà T1 trình bày trước đây có cho ông Tăng M để sản xuất. Nay ông bà yêu cầu ông T2 phải có trách nhiệm trả lại diện tích đất nói trên cho ông bà. Ông Trương T2 trình bày thửa đất số 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích 12.416,3m² ông đã mua của ông Lê Khắc T3, có giấy tờ mua bán cụ thể. Còn phần diện tích đất ông mượn của ông T, bà T1 thì năm 2009 ông T, bà T1 đã đòi lại và bán cho ông Nguyễn Xuân D1, không liên quan gì đến diện tích đất ông đã mua của ông Lê Khắc T3 nên ông không đồng ý trả lại.
[2.4] Tại biên bản lấy lời khai ông Lê Khắc T3 trình bày có bán cho ông T2 một phần diện tích và hai bên thống nhất là từ cây Tràu trở xuống. Diện tích đất từ cây Tràu trở xuống khoảng hơn 4.000m². Điều này là phù hợp với diện tích của thửa đất số 45 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích là 4.032,2m² theo phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất. Điều này cũng phù hợp với lời khai của ông Lê Khắc T3 về việc bán một phần diện tích đất cho ông Trương Tăng . Ông Trương T2 trình bày ông đã mua toàn bộ diện tích đất tranh chấp của ông Lê Khắc T3 và có xuất trình giấy tờ mua bán giữa ông với ông Lê Khắc T3.
[2.5] Xét giấy chuyển nhượng đất ngày 16/4/2001 thể hiện việc mua bán giữa ông T2 và ông T3 như sau: “Ngày 16/4/2001, tên tôi là Lê Khắc T3...Tôi có một khu đất tại động K. Nay tôi không làm được tôi chuyển nhượng khu đất trên cho ông Trương Văn T2...với số tiền 600.000 đồng....Vậy tôi viết giấy này để giao quyền sử dụng lâu dài khu đất cho ông Trương Văn T2”. Như vậy, tại giấy này không thể hiện diện tích mua bán cụ thể là bao nhiêu, không có tứ cận rõ ràng, không có số hiệu thửa đất, không có giáp ranh các thửa đất khác. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm đã lấy lời khai của ông T3, ông T3 trình bày chữ ký tại giấy chuyển nhượng trên không phải là chữ ký của ông T3. Tuy nhiên, ông T2 không đề nghị giám định chữ ký chữ viết của ông T3 nên không có căn cứ để xác định ông T3 có ký và xác nhận vào giấy chuyển nhượng đất này hay không. Ngoài ra, diện tích đất khai hoang nói trên là tài sản chung của ông T, ông T4, ông T3, bà T1, việc ông T3 tự ý bán cho ông T2 mà không có sự đồng ý của ông T, ông T4 và bà T1 là trái quy định của pháp luật. Đối với việc ông Trương T2 trình bày diện tích đất ông mượn của ông T, bà T1 thì ông T, bà T1, đã đòi lại bán cho ông Nguyễn Xuân D1, tuy nhiên ông T, bà T1 không thừa nhận đã lấy lại đất cho ông Tăng M để bán cho ông D1, việc ông T, bà T1 bán cho ông D1 là diện tích đất khác không phải là phần diện tích đất ông T, bà T1 đã cho ông Tăng M. Lời khai này phù hợp với lời khai của ông D1, ông D1 khẳng định ông mua của vợ chồng ông T, bà T1 là thửa đất số 92, tờ bản đồ số 01 tại vùng K, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Phần đất ông T, bà T1 bán cho ông hoàn toàn không nằm trong phần diện tích đang tranh chấp giữa ông T, bà T1 với ông T2. Do đó, bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên việc kháng cáo của bị đơn ông Trương T2 là không có căn cứ để chấp nhận.
[2.6] Đối với diện tích đất tranh chấp tại thửa đất số 46 tờ bản đồ số 08 tại khu vực Khe Cầu, xã Q có diện tích 12.416,3m2 hiện nay chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên phần diện tích đất này được UBND xã Q xác nhận đây là đất các hộ gia đình tự khai hoang sản xuất, không phải là đất của UBND xã Q, các hộ gia đình được phép sử dụng. Hiện nay phù hợp với quy hoạch đất sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, đủ điều kiện để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên bản án sơ thẩm quyết định tạm giao quyền sử dụng toàn bộ thửa đất số 46 cho ông T, bà T1 là có căn cứ.
[2.7] Đối với các tài sản trên đất gồm có 3.170 cây keo đường kính từ 03 cm đến 05cm; 1.023 cây bạch đàn đường kính dưới 01 cm đây là tài sản của bị đơn ông Trương Tăng . Các tài sản này hiện nay chưa đến giai đoạn thu hoạch nên bản án sơ thẩm giao cho nguyên đơn quản lý sử dụng đồng thời buộc nguyên đơn ông T, bà T1 phải trích lại giá trị tài sản trên đất cho bị đơn ông Trương T2 là phù hợp.
[2.8] Từ các phân tích trên nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông Trương T2, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Quyết định của bản án sơ thẩm buộc nguyên đơn phải trích lại giá trị tài sản trên đất cho bị đơn nhưng không tuyên lãi suất chậm thi hành án là thiếu sót, cấp phúc thẩm cần bổ sung.
[4] Về án phí: Kháng cáo của ông Trương Tăng K được chấp nhận nhưng ông Trương T2 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Trương T2, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 34/2024/DS-ST ngày 17/9/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Miễn tiền án phí dân sự phúc thẩm cho ông Trương Tăng .
- Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM | |
CÁC THẨM PHÁN | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
Nguyễn Quang Trung Nguyễn Thị Thanh Nga | Nguyễn Thị Thu Từ |
Bản án số 37/2025/DS-PT ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 37/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất đai
