|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2025/DS-PT
Ngày 25 tháng 02 năm 2025
V/v tranh chấp quyền sử
dụng đất, di dời nhà, trả đất,
công nhận QSDĐ
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Tâm
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Minh Châu, bà Trịnh Ngọc Thúy;
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Dương Quy Thái, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 227/2024/TLPT- DS ngày 02 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu di dời nhà trả đất, công nhận quyền sử dụng đất”;
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 132/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang bị kháng cáo;
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 409/2024/QĐXXPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn:
- Bà Trần Thị T, sinh năm 1961;
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1974;
Địa chỉ: Tổ C, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang;
- Ông Trần Văn N, sinh năm 1971; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã N, huyện A, An Giang;
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: bà Trần Thị H, sinh năm 1990, địa chỉ: tổ B, ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang (theo Giấy ủy quyền ngày 22/01/2025), có mặt;
2. Bị đơn:
- Ông Trần Văn K (K1), sinh năm 1969, có mặt;
- Bà Hà Thị L6, sinh năm 1972, có mặt;
Địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã N, huyện A, An Giang.
2
Đại diện hợp pháp của bị đơn:
- Ông Nguyễn Quốc K2, sinh năm 1983, địa chỉ: Ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt;
- Ông Trần Hùng Duy K3, sinh năm 1995; địa chỉ: khóm H, thị trấn Đ, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Trần Văn C, sinh năm 1954; địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã T, huyện C, thành phố Cần Thơ, vắng mặt;
Ông Trần Văn H1, sinh năm 1953; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang (chết ngày 24/11/2023);
Ông Trần Văn D, sinh năm 1964 (đã chết năm 2019);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông Trần Văn D:
+ Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1965, vắng mặt;
+ Ông Trần Văn Bé H2, sinh năm 1988, vắng mặt;
+ Ông Trần Văn Bé B, sinh năm 1991, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Ấp B, xã N, huyện A, tỉnh An Giang;
Bà Trần Thị H (đã chết năm 2017)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà H:
+ Ông Danh C1, sinh năm 1956, vắng mặt;
+ Ông Danh Văn L, sinh năm 1981, vắng mặt;
+ Bà Danh Thị P, sinh năm 1983, vắng mặt;
+ Bà Danh Thị N2, sinh năm 1986, vắng mặt;
+ Bà Danh Thị B1, sinh năm 1988, vắng mặt;
+ Bà Danh Thị L1, sinh năm 1991, vắng mặt;
+ Bà Danh Thị Diễm H3, sinh năm 1994, vắng mặt;
Địa chỉ: Tổ E, ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
Ông Trần Văn K4 (chết)
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K4:
+ Bà Trần Thị P1, sinh năm 1985; địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước, vắng mặt;
+ Chị Trần Thị Bích T2, sinh năm 01/01/2003, địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, vắng mặt;
3
Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang, có mặt.
Bà Trần Ngọc N3, sinh năm 1997, vắng mặt;
Ông Nguyễn Tấn T3, sinh năm 1990, vắng mặt;
Nguyễn Trần Ngọc H4, sinh năm 2022 (do ông T3 và bà N3 là đại diện theo pháp luật), vắng mặt;
Ông Đoàn Văn T4, sinh năm 1987, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã N, huyện A, An Giang;
Bà Trần Thị Y (chết);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Y:
+ Ông Trình Văn H5, sinh năm 1951, vắng mặt;
+ Bà Trình Thị S, sinh năm 1972, vắng mặt;
+ Bà Trình Thị C2, sinh năm 1979, vắng mặt;
+ Ông Trình Văn T5, sinh năm 1980, vắng mặt;
+ Bà Trình Thị Huỳnh M1, sinh năm 1989, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: ấp T, xã N, huyện A, An Giang.
Ông Trần Văn K5 (chết);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông K5:
+ Bà Phạm Thị N4, sinh năm 1962, vắng mặt;
+ Bà Trần Thị C3, sinh năm 1983, vắng mặt;
+ Bà Trần Thị Ngọc Q, sinh năm 1994, vắng mặt;
+ Trần Tiểu L2, sinh năm 2002, vắng mặt;
Cùng địa chỉ: ấp T, xã N, huyện A, An Giang.
Bà Trần Thị Đ, (chết);
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà Đ: Ông Huỳnh Thái B2, sinh năm 1964, địa chỉ: tổ A, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, có mặt.
Bà Trần Thị Thu B3, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ B, ấp B, xã N, huyện A, An Giang, có mặt.
Ông Trần Văn H6, sinh năm 1965; địa chỉ: số nhà G, ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.
Bà Trần Thị L3, sinh năm 1966, địa chỉ: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang, có mặt.
Bà Trần Thị C4, sinh năm 1974; địa chỉ: ấp T, xã N, huyện A, An Giang địa chỉ liên lạc: ấp P, xã L, thị xã T, tỉnh An Giang, có mặt.
4
3. Người kháng cáo: Ông Trần Văn K (K1), sinh năm 1969 và bà Hà Thị L6, sinh năm 1972; địa chỉ: Tổ B, ấp T, xã N, huyện A, An Giang, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai cùng với các tài liệu kèm theo của đồng nguyên đơn, đại diện nguyên đơn, bà Trần Thị H trình bày:
Phần đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 56,3m² (tại các điểm 9,11,15,16), tọa lạc tại xã N, huyện A, tỉnh An Giang; nguồn gốc đất do cha mẹ nguyên đơn là ông Trần Văn T6 và bà Hà Thị H7 để lại. Vào khoảng năm 1979, sau khi chiến tranh biên giới Tây Nam kết thúc có một số hộ dân về xã N định cư nhưng không có nơi ở ổn định và có đến gặp cha mẹ nguyên đơn xin cất tạm nhà trên đất để ở. Do thấy các hộ dân có hoàn cảnh khó khăn nên cha mẹ của nguyên đơn đã đồng ý cho cất nhà.
Gia đình ông K, bà L6 cất nhà ở tạm trên phần đất của ông T6 và bà H7 không có làm giấy tờ nhưng có nhiều người xác nhận. Tuy nhiên, gia đình ông K, bà L6 tự ý sửa chữa, xây cất lại căn nhà trên đất mà không thông qua ý kiến của nguyên đơn. Mặc dù, đã nhiều lần liên hệ và yêu cầu ông K, bà L6 nếu muốn tiếp tục sử dụng phần đất trên thì phải làm giấy mua tờ bán nhưng ông K, bà L6 không đồng ý. Nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
+ Công nhận phần đất có diện tích diện tích 56,3m² (tại các điểm 9,11,15,16), theo bản vẽ đo đạc hiện trạng ngày 06/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh A, tọa lạc tại xã N, huyện A, tỉnh An Giang thuộc quyền sử dụng của các đồng thừa kế của ông Trần Văn T6 và bà Hà Thị H7 là các ông, bà: Bà Trần Thị T, ông Trần Văn N, bà Trần Thị T1, ông Trần Văn C, ông Trần Văn H1, ông Trần Văn D.
+ Buộc gia đình ông Trần Văn K và bà Hà Thị L6 di dời nhà trả lại phần đất có diện tích diện tích 56,3m² (tại các điểm 9,11,15,16), theo bản vẽ đo đạc hiện trạng ngày 06/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh A, tọa lạc tại xã N, huyện A, tỉnh An Giang cho gia đình chúng tôi theo quy định pháp luật.
Nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, buộc ông Nguyễn Văn M tháo dỡ nhà tạm (hiện tại căn nhà đã sập, không còn ở trên đất), vị trí 18,19,20,21 diện tích 22m². Trước đây nhà này bà Nguyễn Thị H8 (mẹ ông M) ở. Sau khi bà H8 mất thì ông M về ở, hiện nay thì ông M không còn ở trên đất này;
- Đại diện bị đơn trình bày: Bà T, bà T1, ông N cho rằng bị đơn đã chiếm phần đất diện tích 56,3m² (tại các điểm 9,11,15,16), theo bản vẽ đo đạc hiện trạng ngày 06/02/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh A, tọa lạc tại xã N, huyện A, tỉnh An Giang thuộc quyền sử dụng của gia đình bà T, bà T1, ông N và yêu cầu Tòa án buộc ông K và bà L6 phải trả di dời nhà lại phần đất này là không đúng. Bị đơn không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Phần đất tranh chấp có nguồn gốc là của cha mẹ của bị đơn cho lại ông K từ khoảng năm 1992, diện tích 56,3m² (tại các điểm 9,11,15,16) không có làm giấy tờ.
5
Sau khi được cha mẹ cho lại đất thì ông K và bà L6 trực tiếp quản lý sử dụng cho đến nay không ai tranh chấp.
Cha mẹ bị đơn là ông Trần Ngọc T7 (mất năm 1984), mẹ Nguyễn Thị K6 (mất năm 1992), có 8 người con gồm:
+ Trần Thị Y (chết); chồng Trình Văn H5, cư trú: Ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang, có 04 người con.
+ Trần Văn K5 (chết), vợ tên Phạm Thị N4, cư trú: Ấp T, xã N, huyện A, tỉnh An Giang, có 03 người con.
+ Trần Thị Đ (chết), chồng tên là Huỳnh Thái B2 (không con); cư trú ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang.
+ Trần Thị Thu B3, sinh năm 1962;
+ Trần Thị L3, sinh năm 1966;
+ Trần Văn K, sinh năm 1969;
+ Trần Văn H6, sinh năm 1972;
+ Trần Thị C4, sinh năm 1974;
Trong quá trình bị đơn quản lý sử dụng đất đến tháng 10/2023 thì gia đình bà T, bà T1, ông N khởi kiện tranh chấp và cho rằng chiếm đất của gia đình bà T, bà T1, ông N. Phần đất có diện tích 157,7m² (tại các điểm 10,12,15,27,24,23,22), đất tọa lạc tại xã N, huyện A, tỉnh An Giang là do cha mẹ cho lại ông K và ông K trực tiếp quản lý sử dụng cho đến nay.
Bị đơn có đơn phản tố, yêu cầu công nhận phần đất có diện tích 157,7m² (tại các điểm 10,12,15,27,24,23,22) thuộc quyền sử dụng của ông Trần Văn K và Hà Thị L6.
Bị đơn bổ sung yêu cầu, buộc ông Nguyễn Văn M tháo dỡ nhà tạm (hiện tại không còn ở trên đất) tại vị trí 18,19,20,21; diện tích 22 m² và công nhận phần đất này cho bị đơn. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn rút lại yêu cầu tranh chấp đối với ông Nguyễn Văn M.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, ông Đoàn Văn T4 trình bày:
Năm 2003, ông T4 mua của bà Trần Thị Thúy P2 đất tại các điểm 14,12,27,22,23,24,25,26,28, và phần đất dài xuống sông phía sau với giá tiền 550.000.000 đồng (đưa trước 250.000.000 đồng), ông đã xây cuốn nền nhà nhưng phía sau nhà ông K đứng ra tranh chấp nên hiện nay chưa xây dựng xong. Trước đó phần đất phía sau nhà ông K, nhà ông M là nhà ông K4 (em ruột bà T1) và bà T1 trồng bạch đàn. Căn nhà của ông K4 (em ruột bà T1) đã tháo dỡ. Ông T4 yêu cầu Toà án xác định phần đất này ông T4 mua để ông được phép tiếp tục xây dựng.
- Bà Trần Thị Thu B3, bà Trần Thị Lệ C5 trình bày: Nguồn gốc đất tranh chấp của cha là ông Trần Ngọc T7 (nghe nói là ông T7 mua của ông K8, cha ông T6). Lúc chiến tranh biên giới ông T7 có về Khánh Hòa, C ở một thời gian, sau đó thì
6
quay lại ở tại nền nhà đó năm 1979- 1980. Sau đó thì ông K ở cho đến nay, nhà này vẫn còn là tài sản chung của cha, mẹ chưa chia cho ai hết. Ông K ở quản lý nhà của cha mẹ. Về nền đất, trước đó chỉ có phía trước cất nhà, phía sau là sông, sau này đất mới bồi ra thêm, có cho ông 6 Nhọn (M) ở nhờ, hiện nay ông M đã trả lại.
- Ông Trần Văn H6 trình bày: Nguồn gốc đất của cha là ông Trần Ngọc T7. Lúc chiến tranh biên giới ông T7 có về Khánh Hòa, C ở một thời gian, sau đó thì quay lại ở tại nền nhà đó. Nhà này vẫn còn là tài sản chung của cha mẹ, chưa chia cho ai hết, ông K (thứ sáu) là anh ở quản lý nhà của cha mẹ, không biết rõ đất này cha có mua lại hay ở nhờ.
* Tại Bản án sơ thẩm số 132/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang đã tuyên xử:
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị T, Trần Thị T1, Trần Văn N;
Buộc ông Trần Văn K, Hà Thị L6 di dời nhà tại các điểm 9,11,15,16 diện tích 56,3 m² trả lại đất cho các đồng thừa kế hàng thứ nhất của ông Trần Văn T6 (nguyên đơn và các hàng thừa kế thứ nhất còn sống, nếu hàng thừa kế thứ nhất không còn thì đến hàng thừa kế thứ hai).
Giao phần đất tại các điểm 9,11,15,16 diện tích 56,3 m² cho Trần Thị T, Trần Thị T1, Trần Văn N tạm quản lý, khi nào các đồng thừa kế còn lại có yêu cầu thì sẽ xem xét giải quyết thành vụ án dân sự về chia tài sản chung hoặc chia thừa kế.
Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn về việc yêu cầu công nhận toàn bộ diện tích đất tại các điểm 10,12,15,27,24,23,22 diện tích 157,7 m² cho ông Trần Văn K và bà Hà Thị L6.
Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú thi hành án theo kết quả đo đạc ngày 06/2/2024 của Văn phòng Đ1 chi nhánh A.
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 11/7/2024, bị đơn ông K (K1), bà L6 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.
Tại phiên toà phúc thẩm:
- Nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc được công nhận diện tích đất 157,7 m².
- Bị đơn: Ông K, bà L6 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo:
+ Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N, bà Trần Thị T, bà Trần Thị T1 hoặc đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn do nguyên đơn không đủ điều kiện khởi kiện vì không có ủy quyền của những đồng thừa kế khác.
7
+ Đề nghị xem xét chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận cho ông K, bà L6 phần đất có diện tích 157,7 m² tọa lạc tại xã N, huyện A, tỉnh An Giang.
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Trần Thị Thu B3, Trần Văn H6, Trần Thị L3, Trần Thị C4, Huỳnh Thái B2: đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Huỳnh Thái B2 xác định đất tranh chấp của cha mẹ vợ, yêu cầu trả lại cho ông K.
Ông Nguyễn Văn M xác định trước đây cha mẹ ông có cất nhà ở nhờ trên đất phía sau nhà của ông Hai T8. Nay nhà đã hư mục nên đồng ý trả lại đất cho gia đình ông K.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, Thẩm phán đã thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa phúc thẩm, đảm bảo đúng các nguyên tắc, phạm vi xét xử, thành phần và sự có mặt của các thành viên Hội đồng xét xử, thủ tục phiên tòa được đảm bảo đúng pháp luật của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Về chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, tuyên xử: Hủy bản án dân sự sơ thẩm số số 132/2024/DS-ST ngày 28 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang; chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân huyện An Phú giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
- Bị đơn ông K, bà L6 kháng cáo trong thời hạn luật định, có nộp tạm ứng án phí phúc thẩm nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về việc vắng mặt của đương sự:
+ Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện nguyên đơn là bà Trần Thị H, bị đơn ông K, bà L6, đại diện hợp pháp là ông Nguyễn Quốc K2, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Trần Thị Thu B3, ông Trần Văn H6, bà Trần Thị L3, bà Trần Thị C4, ông Huỳnh Thái B2, ông Nguyễn Văn M có mặt; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không rõ lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa.
[2] Về nội dung:
8
Nguyên đơn bà T, bà T1, ông N khởi kiện yêu cầu ông K, bà L6 di dời nhà trả lại diện tích đất 56,3 m² theo kết quả đo đạc của Văn phòng Đ1 chi nhánh A ngày 06/02/2024. Nguyên đơn cho rằng đất có nguồn gốc của ông K8 là cha của ông T6, để lại cho ông T6, bà H7 (cha mẹ của nguyên đơn) đã cho bị đơn ở nhờ, không có lập văn bản thỏa thuận.
Về phía bị đơn ông K, bà L6 khai đất của ông Trần Ngọc T7 (là cha của ông K) có từ trước 1975. Ông T7 cất nhà ở và sau khi chết để lại cho ông K, bà L6 tiếp tục sử dụng cho đến nay.
Tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp có Tờ tường trình ngày 02/8/2017 của bà Nguyễn Thị H8 (mẹ của Nguyễn Văn M) cùng con là Nguyễn Văn Có cùng ký tên xác nhận ở nhờ trên đất của ông T6.
Lời khai của những người làm chứng: Kiều Văn K7, Võ Văn B4, Nguyễn Thị Kim B5 thì xác định đất tranh chấp có nguồn gốc của ông Bảy K8 (cha ông T6) nhưng không rõ có việc cho ông T7 hay gia đình ông K ở nhờ hay không.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào nội dung tường trình của bà Nguyễn Thị H8 thừa nhận có ở nhờ trên đất của ông Trần Văn T6 và nhận định phần đất phía sau nhà của bà H8 có căn nhà của ông Trần Văn K4 (con ông T6) đã tháo dỡ để bán cho người khác và trên phần đất phía sau nhà ông K4 (đã tháo dỡ) có nhiều cây bạch đàn khoảng 10 năm tuổi vừa được đốn hạ cho người khác cất nhà, ông K biết rõ nhưng không tranh chấp, từ đó xác định nguồn gốc đất là của ông T6 để lại cho con và phần đất ông K đang sử dụng tiếp giáp với các phần đất của đồng nguyên đơn là thừa kế của ông T6.
Xét yêu cầu kháng cáo của ông K, bà L6, thấy rằng:
Diện tích đất tranh chấp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nguyên đơn cho rằng đất do cha là ông Trần Văn T6 và mẹ là Hà Thị H7 để lại, gia đình ông K, bà L6 xin cất nhà ở tạm từ sau chiến tranh biên giới Tây Nam khoảng năm 1979 nhưng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh.
Hiện trạng trên đất có căn nhà của ông K và bà L6 đang quản lý, sử dụng có diện tích 56,3 m². Ông K và bà L6 xác định nguồn gốc đất là của cha là ông Trần Ngọc T7 để lại, đồng thời đại diện bị đơn có cung cấp chứng cứ là bản photo trình bày của những người làm chứng gồm:
- Ông Nguyễn Văn L4 (bút lục 70) xác định cha ông Khỏi mua đất của chú nguyên đơn trên 60 năm;
- Ông Mai Văn S1 (bút lục 69) xác định đất của ông T7 từ năm 1968 đến nay, sau khi chạy giặc ông T7 qua đời để lại cho con là ông K.
- Ông Đỗ Hoàng M2 (bút lục 65) xác định đất ông T7 mua từ lâu, trước 1975, ông T7 chết, con ông T7 cất nhà ở cho đến nay.
- Ông Nguyễn Văn T9 (bút lục 68) xác định đất do cha ông Khỏi mua của chú ba Tuội (Tụi);
9
- Ông Trương Minh D1 (bút lục 67) xác định nền nhà do ông T7 mua của ông T10 (Tụi), khi ông T7 cất nhà ông D1 có xem và hiểu sự việc;
- Ông Nguyễn Văn T11 (bút lục 66) xác định nền đất thổ cư ông T7 mua của ông T12 cất nhà trước giải phóng miền N;
Các bản trình bày của những người làm chứng đều có xác nhận chữ ký của Công an xã N. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không xác nhận đã đối chiếu với bản chính và cũng không tiến hành lấy lời khai của những người làm chứng để làm rõ nguồn gốc đất.
Ngoài ra, lời khai của bà Nguyễn Thị N5 cũng xác định nguồn gốc đất không biết của ai nhưng vào năm 1980 thì có căn nhà của ba mẹ ông K là ông Trần Ngọc T7 ở. Điều này cho thấy cha mẹ ông K là ông T7 và bà K7 đã có quá trình sử dụng đất từ lâu, sau khi mất thì ông K tiếp tục sử dụng cho đến nay.
Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập đầy đủ chứng cứ về nguồn gốc đất và quá trình sử dụng đất của các bên đương sự, khi xét xử chưa đánh giá đầy đủ, toàn diện các tài liệu chứng cứ do các bên cung cấp, từ đó, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn tháo dỡ di dời nhà trả lại đất là chưa đủ căn cứ.
Ngoài ra, trong quá trình thụ lý, xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm có những sai sót, vi phạm tố tụng cụ thể như sau:
- Việc xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Tòa án cấp sơ thẩm xét xử vắng mặt các đương sự: Trần Văn H1 (đã chết ngày 24/11/2023); Trần Văn C, Trần Thị L3, Huỳnh Thái B2, Trần Thị Bích T2, Trần Thị P1. Tuy nhiên việc tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử số 275 ngày 15/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 256 ngày 12/6/2024 cho các đương sự trên không bảo đảm hợp lệ, do Trần Văn H1 đã chết (biên bản tống đạt do bà H nhận thay); bì thư gửi qua qua đường bưu chính cho các đương sự Trần Văn C, Trần Thị L3, Huỳnh Thái B2, Trần Thị Bích T2, Trần Thị P1 đều không có người nhận, bưu chính chuyển hoàn. Việc xét xử vắng mặt các đương sự trên là không có căn cứ theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về người tham gia tố tụng:
Ông Trần Văn H1 chết trước khi Tòa án cấp sơ thẩm đưa vụ án ra xét xử. Trong hồ sơ vụ án thể hiện tại bút lục số 150, 151 đương sự có cung cấp Giấy chứng tử của ông H1 và tờ cam kết của bà Huỳnh Thị B6 về việc không bỏ sót hàng thừa kế của ông H1; tại Biên bản hòa giải ngày 07/12/2023, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông H1 chết ngày 24/11/2023 và xác định người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của ông H1 gồm: Huỳnh Thị B6, Trần văn H9, Trần Văn T13, Trần Thị H10, Trần Văn T14, Trần Thị T15, Trần Thị Bích L5, nhưng trong Quyết định đưa vụ án ra xét xử và bản án sơ thẩm xác định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông H1 (vắng mặt) mà không đưa người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông H1 vào tham gia tố tụng là thiếu sót.
10
Trong các đồng thừa kế là con của ông T6, bà H7 có người chết trước khi Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý vụ án như: Trần Văn D (chết năm 2019), Trần Văn K4 (chết năm 2019), Trần Thị H (chết năm 2017), nhưng lại xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là không đúng.
- Về thụ lý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Theo nội dung đơn khởi kiện của của nguyên đơn được Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý theo Thông báo thụ lý số 777 ngày 26/10/2023, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả diện tích đất 40,5 m² (ngang 4,5 m x 9,0 m). Tuy nhiên sau khi đo đạc xác định diện tích đất ông K bà L6 đang sử dụng là 56,3 m², phía nguyên đơn yêu cầu bị đơn di dời nhà, trả lại diện tích đất 56,3 m². Thẩm phán không thông báo cho nguyên đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện để thụ lý bổ sung yêu cầu khởi kiện mà vẫn xem xét giải quyết chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn trả diện tích đất 56,3 m² là vượt quá phạm vi khởi kiện, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về thụ lý, giải quyết yêu cầu phản tố:
Tại Đơn phản tố ngày 04/12/2023 (bút lục 108), bị đơn yêu cầu công nhận diện tích đất 180 m² (ngang 4,5m dài 40 m) cho ông K, bà L6 được quyền sử dụng;
Tại Tờ tường trình ngày 17/4/2024, bị đơn xác định yêu cầu công nhận quyền sử dụng diện tích 157,7 m² (theo kết quả đo đạc ngày 06/02/2024 của Văn phòng đăng ký đất) và trong Đơn phản tố bổ sung ngày 17/4/2024, bị đơn yêu cầu ông M2 tháo dỡ di dời nhà sắt trả lại diện tích đất 22 m² (theo kết quả đo đạc).
Tòa án cấp sơ thẩm ban hành thông báo cho bị đơn nộp tạm ứng án phí phản tố ngày 07/12/2023, nhưng sau khi đại diện bị đơn nộp tạm ứng án phí Tòa án cấp sơ thẩm không ban hành Thông báo thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn nhưng vẫn ban hành thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải và xét xử là vi phạm tố tụng.
Với những sai sót trong thu thập, đánh giá chứng cứ và vi phạm thủ tục tố tụng như đã nêu trên cấp phúc thẩm không thể khắc phục được; cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang, chấp nhận kháng cáo của bị đơn, hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo trình tự sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng sẽ được xem xét khi giải quyết lại vụ án theo quy định của pháp luật.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: do hủy án sơ thẩm nên ông K, bà L6 không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm, hoàn trả cho bị đơn tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 308; khoản 1 Điều 310; khoản 3 Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
11
30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
Chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn K (K1), bà Hà Thị L6;
Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 132/2024/DS-ST ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện An Phú, tỉnh An Giang giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Trần Văn K, bà Hà Thị L6 không phải chịu; hoàn trả cho ông K (K1) và bà Hà Thị L6 mỗi người 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0009992 ngày 26/7/2024, ghi tên Hà Thị Ngọc L6 và Biên lai thu số 0009993 ngày 26/7/2024, ghi tên Trần Văn K (Khải) của Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Phú.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Tâm |
Bản án số 37/2025/DS-PT ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà, trả đất, công nhận qsdđ
- Số bản án: 37/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp quyền sử dụng đất, di dời nhà, trả đất, công nhận QSDĐ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp đất, chưa có giấy CNQSDĐ
