Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

—————————

Bản án số: 37/2025/DS-PT

Ngày: 13/02/2025

“V/v tranh chấp QSDĐ và chia thừa kế”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Nguyễn Văn Hải

Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan, bà Võ Bích Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Trang là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13/02/2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 444/2024/TLPT-DS ngày 09 tháng 12 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 210/2024/DS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 517/2024/QĐ-PT ngày 17 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

  1. Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960.
  2. Địa chỉ: 7 tổ H, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  3. Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1965.
  4. Địa chỉ: C khu vực P, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ.

Người đại diện theo ủy quyền của các nguyên đơn: Ông Võ Văn N1, sinh năm: 1995. (có mặt)

Địa chỉ: C L, phường L, quận C, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1955 (có mặt)

Địa chỉ: 403/12 khu vực G, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của ông T: Luật sư Nguyễn Quốc N2, Công ty L – Đoàn luật sư thành phố C.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan

  1. Ông Nguyễn Thành S, sinh năm 1962 (có mặt)
  2. Địa chỉ: 1 tổ H, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  3. Ông Nguyễn Thành S1, sinh năm 1966.(vắng mặt)
  4. Địa chỉ: 1 tổ H, khu V, phường H, quận C, thành phố Cần Thơ.

  5. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm: 1955 (có mặt).
  6. Địa chỉ: 4 khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

  7. Ban Quản lý dự án phát triển quỹ đất quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).

Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị K.

NỘI DUNG VỤ KIỆN

Theo đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, nguyên đơn trình bày: Cha mẹ bà là cụ Nguyễn Văn T1 (mất năm 2017) và cụ Võ Thị K1 (mất năm 2006) có 05 người con gồm: ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thành S1, ông Nguyễn Thành S, bà Nguyễn Thị K.

Phần đất mà ông Nguyễn Văn T đang đứng tên chủ sử dụng là của cụ T1 và cụ K1, cha mẹ chỉ cho ông Nguyễn Văn T quản lý và khai thác. Năm 1994 ông T tự ý kê khai đứng tên trên giấy đất mà không cho cha mẹ bà biết, nên năm 2004 mẹ bà là cụ Võ Thị K1 hay tin mới khởi kiện tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều yêu cầu ông Nguyễn Văn T phải trả lại phần đất tại thửa số 7+8, tờ bản đồ số 17, diện tích 9.093m² trong đó có 300m² đất thổ cư. Căn cứ theo quyết định số 107/TCHGT ngày 17/6/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ thì quyết định công nhận sự thỏa thuận ông T sẽ trả lại phần đất trên cho cụ K1, nhưng nay cụ K1 đã mất ông T vẫn không thực hiện.

Bà yêu cầu chia giá trị phần đất do ông T quản lý sử dụng bị nhà nước thu hồi bồi thường về đất có giá trị là 2.041.540.800đồng và diện tích đất còn lại hiện nay do bà M (vợ ông T) đứng tên có diện tích 313,8m² (đất lúa), bà đồng ý theo giá đất trong biên bản định giá tài sản của Tòa án ngày 15/9/2022 có giá trị là 56.810.160 đồng. Do đó, tổng giá trị di sản các bà yêu cầu chia theo pháp luật là 2.098.350.000đồng, mỗi người được hưởng là 419.670.000đồng.

Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ktrình bày: Bà thống nhất với lời trình bày của bà Nguyễn Thị N, không bổ sung gì thêm.

Bị đơn ông Nguyễn Văn Ttrình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vì đất này là của cha mẹ cho ông và ông đã quản lý sử dụng từ năm 1982 đến nay. Năm 2004, do mẹ ông là cụ Võ Thị K1 bị nguyên đơn xúi giục mới làm đơn kiện ông ra Tòa án nhưng sau khi biết ông đã ly hôn vợ và chia đất cho các con thì mẹ ông không đòi lại đất nữa.

Diện tích đất ban đầu là 9.093m² đến năm 1984 ông đã làm thủ tục chuyển mục đích sử dụng 300m² đất thành đất ODT. Năm 2004 ông đã tặng cho 02 người con là Nguyễn Minh Đ và Nguyễn Minh T2 mỗi người 1.500m² đất lúa. Đến năm 2006 thì ông chuyển nhượng cho người khác khoảng 2.000m² đất lúa, đến năm 2017 thì bị quy hoạch dự án khu đô thị M nên bị thu hồi hơn 3.000m² trong đó có 300m² đất thổ cư và được bồi thường hơn 02 tỷ đồng. Hiện nay chỉ còn lại khoảng 150m² có 01 căn nhà cấp 4 do ông và vợ là bà Nguyễn Thị M quản lý sử dụng. Vợ chồng ông quản lý sử dụng từ đó đến nay không ai tranh chấp, cha mẹ ông đã chia phần cho mỗi người nay nguyên đơn yêu cầu chia phần đất của ông nữa thì ông không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ ông Nguyễn Thành S1,ông Nguyễn Thành Scùng trình bày: Hai ông thống nhất với ý kiến của ông Nguyễn Văn T, không đồng ý chia thừa kế theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Phần này cha mẹ ông đã cho riêng anh hai ông là ông Nguyễn Văn T. Hai ông xin vắng mặt trong các phiên làm việc, hòa giải.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M trình bà: Bà thống nhất ý kiến của ông T và không trình bày gì thêm.

Do hòa giải không thành nên vụ kiện được đưa ra xét xử.

Tại bản án số 210/2024/DSST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử:

  1. Không chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Kvề việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Ttrả lại quyền sử dụng đất tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cho cụ Võ Thị K1 và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật số tiền bồi thường về đất 2.098.350.000 đồng, mỗi người hưởng phần thừa kế 419.670.000đồng.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T chia giá trị của nền tái định cư diện tích 150m².

Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí xem xét thẩm định, tiền án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Không đồng ý với bản án của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên xử nguyên đơn bà bà N và bà K đã kháng cáo bản án trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Võ văn N1 đại diện ủy quyền của các nguyên đơn trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm chưa đánh giá đúng Quyết định 107 bị hủy nhưng hủy về tố tụng còn về nội dung thì ông T thừa nhận đất này là của cụ K1 để lại và đồng ý trả quyền sử dụng đất trên cho cụ K1. Lúc ông hợp thức hóa quyền sử dụng đất thì trong gia đình không ai hay biết. Ông T cũng thừa nhận ông tự kê khai. Nguyên đơn không hay biết Quyết định của Tòa án quận Ninh Kiều bị hủy. Phần đất 3.000m 2 ông T giao lại cho hai con các nguyên đơn cũng không hay biết. Việc cụ K1 tặng cho ông T cũng không lập thành văn bản. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 609, Điều 610, Điều 611, Điều 612, khoản 2, Điều 308 sửa bản án dân sự sơ thẩm.

Luật sư Nguyễn Quốc N2 bảo vệ quyền lợi cho bị đơn trình bày: Các nguyên đơn cho rằng đây là tài sản của cụ K1 và cụ T1 để lại là không có căn cứ. Vì cụ K1 và cụ T1 không đứng tên bất kì tài sản nào mà là do ông T kê khai và đăng kí. Cũng nên hiểu rằng nguồn đất có thể của các cụ nhưng khi đưa tất cả quyền sử dụng đất vào tập đoàn thì không còn của các cụ nữa, đến khi rã tập đoàn và phân chia, ông T là người đứng ra trực tiếp quản lý sử dụng, canh tác trên đất, đăng kí và kê khai. Ông được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất từ năm 1994. Do đó, yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn cũng như kháng cáo là không có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm: Quá trình thụ lý và giải quyết, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Nguyên đơn khởi kiện căn cứ vào Quyết định số 107/TCHGT ngày 17/06/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều. Tuy nhiên, quyết định trên đã bị Quyết định kháng nghị ngày 09/03/2005 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Tại quyết định giám đốc thẩm số 06/2005 ngày 12/4/2005 bị toàn bộ quyết định số 107/TCHGT ngày 17/06/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã đình chỉ giải quyết vụ kiện bằng Quyết định số 224/QĐĐC.DSST ngày 03/10/2005. Do đó, quyết định số 107 không còn giá trị pháp lý. Xét về tài sản thừa kế thì cụ K1 và cụ T1 không có tài sản thừa kế. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định quyền sử dụng đất thuộc thửa 7+8, tờ bản đồ số 17 toạ lạc địa chỉ trên và yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền bồi thường đất 2.098.350.000đồng cùng nền tái định cư 150m². Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm ông T trình bày phần đất bị thu hồi được Nhà nước bố trí nền tái định cư 150m² nhưng ông chưa được bố trí giao nền và phía nguyên đơn cũng rút lại yêu cầu khởi kiện về việc chia giá trị nền tái định cư này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét và đình chỉ là có căn cứ. Bản án sơ thẩm tuyên là đúng quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng dân sự: Xét mối quan hệ pháp luật thì đây là vụ kiện: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và chia di sản thừa kế” Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Khoản 9, Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự. Kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên được xem xét. Việc ủy quyền của các đương sự là hợp lệ và đúng quy định. Đối với những người có quyền và nghĩa vụ liên quan vắng mặt mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nên căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xét xử vắng mặt theo quy định.

[2] Xét nội dung vụ kiện nhận thấy:

[2.1] Về hàng thừa kế: Cụ Nguyễn Văn T1 (mất năm 2017) và cụ Võ Thị K1 (mất năm 2006) có 05 người con gồm: ông Nguyễn Văn T, bà Nguyễn Thị N, ông Nguyễn Thành S1, ông Nguyễn Thành Svà bà Nguyễn Thị Knên những người này là hàng thừa kế thứ nhất của hai cụ.

[2.2] Xét về thời hiệu chia thừa kế: thời hiệu chia thừa kế vẫn còn theo quy định của Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015.

[2.3] Xét về tài sản thừa kế: Các nguyên đơn khởi kiện cho rằng phần đất có diện tích 9.093m² (có 300m² đất ở) thuộc thửa 7+8, tờ bản đồ số 17 toạ lạc tại ấp L, xã A (nay là khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ) mà bị đơn ông Nguyễn Văn T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1994 có nguồn gốc là của cha mẹ tặng cho riêng cho cụ K1. Theo Quyết định công nhận sự thoả thuận của các đương sự số 107/TCHGT ngày 17/6/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ, ông T đã đồng ý trả lại quyền sử dụng đất này cho cụ K1. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ông T phải trả lại quyền sử dụng đất này cho cụ K1 và chia thừa kế theo pháp luật.

Qua xem xét Hội đồng xét xử nhận thấy: Cụ T3 và cụ K1 không có bất cứ tài sản đứng tên hai cụ kể cả thời điểm hiện tại cũng không còn. Chứng cứ các nguyên đơn đưa ra cho rằng cụ K1 có tài sản là do tại quyết định số 107/TCHGT ngày 17/06/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều ông T thừa nhận đồng ý trả lại quyền sử dụng cho cụ K1. Tuy nhiên, Quyết định số 107/TCHGT ngày 17/06/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều nêu trên đã bị Quyết định kháng nghị ngày 09/03/2005 của Chánh án Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ. Tại quyết định Giám đốc thẩm số 06/2005 ngày 12/4/2005 hủy toàn bộ quyết định số 107/TCHGT ngày 17/06/2004 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều. Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều đã đình chỉ giải quyết vụ kiện bằng Quyết định số 224/QĐĐC.DSST ngày 03/10/2005. Do đó, quyết định số 107 không còn giá trị pháp lý. Do quyết định bị hủy không phải là quyết định có hiệu lực pháp luật nên không thể thi hành quyết định bị hủy này.

Mặt khác, căn cứ vào các tài liệu Toà án đã thu thập được từ các cơ quan gồm Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận N, Trung tâm công nghệ thông tin- Sở T4, Ban Quản lý dự án phát triển quỹ đất quận N chỉ cập nhật biến động từ thời điểm ông T kê khai và được cấp giấy vào năm 1994, nguồn gốc trước đó không có hồ sơ ghi nhận và sổ mục kê của Ủy ban nhân dân phường A cung cấp chỉ có tên ông Nguyễn Văn T là chủ sử dụng đất. Đồng thời, tại phiên toà các nguyên đơn trình bày biết việc ông T tặng cho quyền sử dụng đất này cho 03 người con là Nguyễn Minh T2, Nguyễn Minh Đ, Nguyễn Thị Ngọc Đ1 vào năm 2006 và đến năm 2017 phần này bị Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Khu đô thị M, bị đơn được nhận tiền bồi thường về đất và công trình trên đất nhưng phía các nguyên đơn cũng không có ý kiến. Xét tài sản của cụ T3 và cụ K1 là không có nên yêu cầu chia di sản thừa kế là không có cơ sở. Tòa án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn là có căn cứ.

[4] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc xác định quyền sử dụng đất thuộc thửa 7+8, tờ bản đồ số 17 toạ lạc tại ấp L, xã A (nay là khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ) là của cụ Võ Thị K1 (chết năm 2006) và yêu cầu chia thừa kế đối với số tiền bồi thường đất 2.098.350.000 đồng cùng nền tái định cư 150m². Tuy nhiên, tại phiên toà sơ thẩm ông T trình bày phần đất bị thu hồi được Nhà nước bố trí nền tái định cư 150m² nhưng ông chưa được bố trí giao nền và phía nguyên đơn cũng rút lại yêu cầu khởi kiện về việc chia giá trị nền tái định cư này nên Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm không đặt ra xem xét, giải quyết.

[5] Về án phí: yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí theo quy định, tuy nhiên bà Nguyễn Thị N thuộc trường hợp người cao tuổi theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội nên được miễn tiền án phí. Bà Nguyễn Thị Kphải chịu án phí theo quy định. Tuy nhiên, đối với bà K đã kháng cáo bản án sơ thẩm đến khi xét xử phúc thẩm bà đã trên 60 tuổi nên thuộc trường hợp người cao tuổi. Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh lại phần án phí của bà theo hướng bà không phải chịu án phí sơ thẩm.

[6] Về chi phí xem xét, thẩm định, định giá: 5.000.000đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên phải chịu chi phí này. Nguyên đơn đã nộp tạm ứng 5.000.000đồng và đã chi xong.

[7] Về tiền án phí dân sự phúc thẩm: Đáng lý ra các nguyên đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm nhưng xét các nguyên đơn là người cao tuổi nên được miễn. Bà K đước nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001813 ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án Dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

[8] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhân.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng:

  • - Khoản 5, khoản 9 Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 217, Điều 227, Điều 228 và khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 623 Bộ luật dân sự năm 2015;
  • - Điều 12, Điều 26, khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị K. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.

  1. Không chấp nhận cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N và bà Nguyễn Thị Kvề việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn Ttrả lại quyền sử dụng đất tại khu V, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ cho bà Võ Thị K1 và yêu cầu chia thừa kế theo pháp luật số tiền bồi thường về đất 2.098.350.000đồng, mỗi người hưởng phần thừa kế 419.670.000đồng.
  2. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Văn T chia giá trị của nền tái định cư diện tích 150m².

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị K là người cao tuổi thuộc trường hợp được miễn án phí theo quy định.
  4. Bà Nguyễn Thị K được nhận lại 2.800.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 003839 ngày 26/3/2021 của Chi cục thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

  5. Về chi phí thẩm định, định giá: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị K, bà Nguyễn Thị N phải chịu 5.000.000 đồng. Các nguyên đơn nộp và chi xong

Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu. Bà Nguyễn Thị K được nhận lại 300.000 đồng theo biên lai thu số 0001813 ngày 26/8/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.

Bản án này là phúc thẩm có hiệu lực pháp luật thi hành ngay.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND thành phố Cần Thơ;
  • - TAND quận Ninh KIều;
  • - Chi cục THADS quận Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Hải

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Tuyết Loan - Võ Bích Hải

Nguyễn Văn Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/DS-PT ngày 13/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp qsdđ và chia thừa kế

  • Số bản án: 37/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp QSDĐ và chia thừa kế
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: QSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger