Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 37/2025/DS-PT

Ngày 11 tháng 4 năm 2025

“V/v Tranh chấp quyền sử

dụng đất”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang;

Các Thẩm phán: Ông Phạm Tuấn Anh; Ông Nguyễn Hán Hưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Hùng – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 98/2024/QĐXXPT –DS ngày 05/11/2024; Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 01/2024/QĐ-PT ngày 27/11/2024; Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án dân sự số 989/2024/QĐ-PT ngày 26/12/2024; Quyết định tiếp tục giải quyết phúc thẩm vụ án dân sự số 153/2025/QĐ-PT ngày 05/3/2025; Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 25/2025/QĐXXPT – DS ngày 05/3/2025; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 01/2025/QĐ-PT ngày 25/3/2025 giữa các đương sự:

Nguyên đơn:

Ông Đinh Công Q, sinh năm 1964 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1966. Cùng địa chỉ: Khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn:

  1. Ông Chu Văn Q1, sinh năm 1976 – Luật Sư thuộc Công ty L1 thuộc Đoàn Luật Sư tỉnh P. Địa chỉ số A, đường M, phường T, Tp V, tỉnh Phú Thọ. Theo hợp đồng ủy quyền ngày 10/11/2023.
  2. Ông Nguyễn Hải L, sinh năm 1975. Địa chỉ: Số A, đường G, phường P, quận T, thành phố Hà Nội.
  3. Bà Nguyễn Tuyết N, sinh năm 2003. Địa chỉ: Xóm B, Y, xã T, huyện H, thành phố Hà Nội. Theo giấy ủy quyền ngày 18/11/2024.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Công Q:

Ông Bùi Đức D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P.

Bị đơn:

Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1959 và bà Lương Thị P, sinh năm 1960.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Lương Thị P:

Ông Nguyễn Trường S, sinh năm 1959; Cùng địa chỉ: Khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo giấy ủy quyền ngày 20/12/2023.

Người đại diện theo ủy quyền của ông S và bà P:

Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1985; Địa chỉ: Khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Theo giấy ủy quyền ngày 08/4/2025.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Xuân T1, sinh năm 1984 và chị Trần Thị H, sinh năm 1984; Cùng địa chỉ: Khu T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Người đại diện theo ủy quyền của anh T1:

  1. Ông Lê Văn C1, sinh năm 1980. Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã P, huyện B, thành phố Hà Nội.
  2. Ông Đào Xuân H1, sinh năm 2000. Địa chỉ thường trú: Thôn T, xã N, huyện X, tỉnh Hà Giang. Theo giấy ủy quyền ngày 24/3/2025.

Người kháng cáo:

Ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P là Bị đơn và anh Nguyễn Xuân T1, chị Trần Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

(Ông Đinh Công Q, Nguyễn Hải L, Chu Văn Q1, Lê Văn C1, Đào Xuân H1 và Anh Nguyễn Văn C đều có mặt tại phiên tòa; A Nguyễn Xuân T1, Ông Nguyễn Trường S, Bùi Đức D, bà Lương Thị P, Nguyễn Thị T, Nguyễn Tuyết N và chị Trần Thị H đều vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện đề ngày 16/11/2023, những lời khai tiếp theo tại Toà án, nguyên đơn; người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn trình bày:

  • Nguồn gốc đất: Ngày 18/10/2022, vợ chồng ông Q1, bà T đã nhận chuyển nhượng từ anh T1, chị H thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, diện tích 733,8m², địa chỉ thửa đất tại khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ với giá là 700.000.000VNĐ (bảy trăm triệu đồng). Tài sản trên đất bao gồm:
    • Diện tích trồng chè cành và những cây trồng khác trên đất;
    • Tường bao quanh khu đất.
  • Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Sau khi nhận chuyển nhượng, ngày 29/3/2023, ông Q1, bà T được UBND huyện T, tỉnh Phú Thọ cấp Giấy chứng nhận số: DI 065158 cho thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, diện tích 733,8m², trong đó: 200m² đất ở tại nông thôn và 533,8m² đất trồng cây lâu năm.
  • Quá trình sử dụng và phát sinh tranh chấp: Trong quá trình sử dụng đất thì phát sinh tranh chấp với hộ ông S, bà P, hiện ông S bà P đang sử dụng lấn vào phần đất của ông Q1, bà T là 111,6m².

Do đó, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, tại phiên tòa, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn yêu cầu:

  • Yêu cầu Tòa án buộc ông S, bà P trả lại 111,6m² đất đang sử dụng trái phép của Nguyên đơn;
  • Đối với 111,6m² đất đang bị lấn chiếm, phần cuối của thửa đất diện tích khoảng 37m² tiếp giáp với nhà ông S, bà P, trong đó có 13,6m² hiện nằm vào dưới mái tôn và hiên nhà của ông S, bà P, Nguyên đơn đồng ý chuyển nhượng lại, trong trường hợp ông bà không đồng ý, yêu cầu Bị đơn trả lại đất, tháo dỡ công trình trên đất để bàn giao mặt bằng cho Nguyên đơn;
  • Đối với chi phí xem xét thẩm định, định giá tài sản, yêu cầu ông S, bà P phải chịu.

[2]. Phía bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Nguyễn Trường S trình bày:

[2.1]. Quan điểm của ông Nguyễn Trường S:

  • Nguồn gốc thửa đất: Toàn bộ phần đất mà anh T1, chị H đã chuyển nhượng cho ông Q1, bà T là của ông và bà P. Ngày 21/3/2022, ông đã tặng cho vợ chồng anh T1, chị H một phần đất của gia đình, khi cho xác định ranh giới mặt đường là 20m, không đo chiều sâu. Sau đó, anh T1, chị H cùng với ông được hướng dẫn làm thủ tục tặng cho. Do anh T1, chị H gặp khó khăn trong việc làm ăn nên đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông Q1, bà T.
  • Việc cấp Giấy chứng nhận và phát sinh tranh chấp: Ông S xác định khi cho anh T1, chị H không đo chiều sâu của thửa đất, nhưng có thông báo chừa lại cho ông một phần trước mái hiên và bờ hè của nhà, tuy nhiên, khi cơ quan có thẩm quyền cấp đất, ông không xem xét kỹ dẫn đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T1, chị H phần cuối của thửa đất nằm trong mái hiên bằng tôn và bờ hè của gia đình ông. Do sai sót từ trước nên phần đất này anh T1, chị H đã sang nhượng cho ông Q1, bà T.
  • Yêu cầu của Bị đơn: Phần đất đang có tranh chấp hiện có diện tích là 111,6m², đề nghị anh T1, chị H có trách nhiệm mua lại từ Nguyên đơn để trả lại cho vợ chồng ông.

[2.2]. Quan điểm của bà Lương Thị P:

Bà P ủy quyền toàn bộ việc giải quyết vụ án cho ông S nên đồng ý với quan điểm của ông S.

[3]. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

[3.1]. Anh T1 vắng mặt, tuy nhiên tại bản tự khai, biên bản hòa giải anh đều trình bày:

  • Anh T1 xác nhận việc được tặng cho đất. Thời điểm được tặng cho vì là thành viên trong gia đình nên không xem xét kỹ, dẫn đến việc phần cuối của thửa đất nằm trong sân, dưới mái tôn và sát vào hè của ông S, bà P;
  • Anh xác nhận việc vợ chồng đã chuyển nhượng đất cho ông Q1, bà T, bao gồm chuyển nhượng đất, toàn bộ tài sản trên đất như biên bản thẩm định của Tòa án.
  • Anh đề nghị Nguyên đơn chuyển nhượng lại cho gia đình anh 111,6m² đất hiện ông S, bà P đang sử dụng.

[3.2]. Quan điểm của chị Trần Thị H:

Toàn bộ việc chuyển nhượng đất tại khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ do chồng chị là anh Nguyễn Xuân T1 thực hiện. Chị đồng ý với quan điểm của anh T1.

[4]. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông Đinh Công Q phát biểu:

Đồng ý với quan điểm của người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn, đề nghị Tòa án buộc ông S, bà P trả lại cho ông Q, bà T diện tích 111,6m², cụ thể: 37m² được thanh toán bằng tiền, còn lại 74,6m² trả lại theo đúng hiện trạng đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã xử:

Căn cứ khoản 1, khoản 10, Điều 12, Điều 166, khoản 1, Điều 167, khoản 1, Điều 168, điểm b, khoản 1, Điều 169 và khoản 1, Điều 170 của Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 5, khoản 9, Điều 26, điểm a, khoản 1, Điều 35, điểm a,c khoản 1, Điều 39, khoản 1, Điều 147, khoản 1, Điều 165, Điều 228, Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm đ, khoản 1, Điều 12, Điều 14, khoản 2, Điều 15 Danh mục được ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Đinh Công Q, bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P. Buộc ông S, bà P trả lại cho ông Q, bà T diện tích 111,6m² đất đang lấn chiếm nằm trong Giấy chứng nhận số DI065158, số vào sổ CH00512, thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ (có sơ đồ hiện trạng kèm theo). Việc trả lại đất sẽ được thực hiện như sau:
    • Đối với phần đất tiếp giáp với nhà ông S, bà P có diện tích là 37m², ông S, bà P có trách nhiệm nhận chuyển nhượng lại và thanh toán tiền cho ông Q, bà T. Giá chuyển nhượng là: 953.938 đồng/1m² x 37m²= 35.295.706 đồng (ba mươi lăm triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn bẩy trăm linh sáu đồng);
    • Phần còn lại là 74,6m², buộc ông S, bà P trả lại cho Nguyên đơn đúng hiện trạng như khi được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Q, bà T có đơn yêu cầu thi hành án đối với khoản tiền nêu trên mà ông S, bà P chưa thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
  2. Về chi phí tố tụng khác: Xác nhận ngày 12/01/2024, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn đã nộp 5.000.000VNĐ (năm triệu đồng) tiền tạm ứng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, đã sử dụng hết 3.500.000VNĐ (ba triệu năm trăm nghìn đồng); Xác nhận ngày 07/3/2024, Tòa án trả lại cho Người đại diện của Nguyên đơn 1.500.000VNĐ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Nay buộc ông S, bà P phải thanh toán số tiền 3.500.000VNĐ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho ông Q, bà T.

Bản án còn tuyên quyền kháng cáo và quyền thi hành án cho các đương sự.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P là Bị đơn kháng cáo không chấp nhận toàn bộ bản án số 04/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

Ngày 23 tháng 7 năm 2024 anh Nguyễn Xuân T1, chị Trần Thị H là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo toàn bộ bản án số 04/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn; Hủy hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 18/10/2022, xác định đây là giao dịch giả tạo nhằm thực hiện việc vay tiền.

Ngày 18/11/2024 ông Lê Văn C1 là người đại diện theo ủy quyền của anh Nguyễn Xuân T1 đã giao nộp cho Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ 01 Giấy vay tiền giữa anh Nguyễn Xuân T1 với ông Đinh Công Q ghi ngày 17/10/2022 nội dung thể hiện anh Nguyễn Xuân T1 vay của ông Đinh Công Q và bà Nguyễn Thị T số tiền 700.000.000đ (bẩy trăm triệu đồng) và thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số DD443770 đối với thửa đất số 70, tờ bản đồ 07, diện tích 733,8m². Hai bên cam kết sau 03 tháng tức là ngày 17/01/2023 anh T1 sẽ phải trả 756.000.000₫ (Bẩy trăm năm mươi sáu triệu đồng), nếu anh T1 không trả được cho ông Q, bà T thì ông Q, bà T có quyền thanh lý bìa đất trên và không có tranh chấp gì.

Do ông Đinh Công Q cho rằng chữ ký, chữ viết trong Giấy vay tiền do anh T1 giao nộp cho Tòa án không phải chữ ký của ông nên ngày 28/11/2024 ông Q đã làm đơn đề nghị Tòa án trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết của ông.

Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã ra Quyết định trưng cầu Viện khoa học hình sự - Bộ C2 tiến hành giám định chữ ký, chữ viết của ông Q trong giấy vay tiền do anh T1 giao nộp.

Tại Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 25/02/2025 của V - Bộ C2 đã kết luận:

Chữ ký Quyền, chữ viết “Đinh Công Q” dưới mục “người cho vay” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký, chữ viết của Đinh Công Q trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 do cùng một người viết ra.

Chữ viết phần nội dung trên Giấy vay tiền ngày 17/10/2022 ký hiệu A do cùng một người viết ra.

Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà phát biểu về việc tuân theo pháp luật của thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên toà khi giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đơn kháng cáo của đương sự đúng hạn luật định. Hội đồng xét xử đã xét xử đúng nguyên tắc, các bên đương sự đều thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo, đại diện VKS đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 BLTTDS 2015.

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T1 và chị Nguyễn Thị H2.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của TAND huyện Tân Sơn đối với việc ông Q và bà T tự nguyện không yêu cầu ông S và bà P phải thanh toán cho ông Q bà T số tiền trị giá diện tích đất 37m² tương ứng giá trị 35.259.706 đồng.

Yêu cầu ông Q và bà T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện tích đất theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án.

Về án phí phúc thẩm: Ông S và bà P; anh T1 và chị H2 không phải chịu.

Về số tiền chi phí tố tụng: Số tiền chi phí giám định hết 6.000.000 đồng ông Q đã tự nguyện nộp và xin chịu toàn bộ do đó không xem xét giải quyết.

(Chi tiết bài phát biểu lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trường S, bà Lương Thị P và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H nộp trong hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

[1.2] Xét nội dung kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P đề nghị cấp phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của Nguyên đơn, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Ngày 06/01/2022, ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P đã ký hợp đồng tặng cho vợ chồng anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H quyền sử dụng thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07 với diện tích 733,8m² và tài sản gắn liền với đất. Hợp đồng được UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ chứng thực. Đến ngày 21/3/2022, anh T1, chị H được UBND huyện T, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng số DD443770, thửa đất 70, tờ bản đồ 07, diện tích 733,8m², trong đó có 100m² đất ở tại nông thôn và 633,8m² đất trồng cây lâu năm. Sau khi anh T1, chị H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông S là người trực tiếp nhận Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của anh T1, chị H sau đó mới giao lại cho anh T1 nhưng không có đề nghị hoặc khiếu nại gì. Như vậy, Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông S, bà P với anh T1 và chị H đã thỏa mãn các điều kiện về chủ thể, hình thức, nội dung phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự. Do vậy, đủ căn cứ để xác định việc tặng cho và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho anh T1, chị H là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên Tòa, ông S đều xác nhận năm 2022 ông bà đã tặng cho vợ chồng anh T1, chị H một thửa đất chiều rộng mặt đường là 20m, chiều dài không đo, tuy nhiên ông, bà có nói với anh T1 để chừa lại tính từ nhà chính ra vị trí cho khoảng 100m², trong quá trình cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do lỗi của anh T1 và Cơ quan chuyên môn nên đã cấp cả phần đất ông, bà chừa lại vào bìa của anh T1, chị H. Phía ông S cho rằng khi cho anh T1 đất nhưng không chỉ rõ vị trí các mốc giới, không đo lại chiều sâu thửa đất, nhưng khi cán bộ địa chính xã, cán bộ Văn phòng đăng ký đất đi đo để kiểm tra hiện trạng dưới sự dẫn đạc của anh T1 thì ông S cùng biết và cũng không có ý kiến gì. Do đó, đây là lỗi của ông S và anh T1, việc UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho anh T1 và chị H với diện tích 733,8m² đất là đúng quy định. Do vậy, Bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xác định Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất giữa ông S, bà P với anh T1, chị H lập ngày 06/01/2022 là hợp pháp và chấp nhận toàn bộ nội dung khởi kiện của Nguyên đơn là có căn cứ nên kháng cáo của ông Nguyễn Trường S, bà Lương Thị P không được chấp nhận.

[1.3] Xét nội dung kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H yêu cầu Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất lập ngày 18/10/2022 và xác định đây là giao dịch giả tạo nhằm thực hiện việc vay tiền. Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:

Ngày 18/10/2022, tại UBND xã T, anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H cùng ông Đinh Công Q và bà Nguyễn Thị T đã ký Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận số DD443770 đứng tên anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H, tại thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, diện tích 733,8m², trong đó có 100m² đất ở và 633,8m² đất trồng cây lâu năm, giá chuyển nhượng là 700.000.000đ. Ngày 29/3/2023, UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận số DI065158, cho ông Đinh Công Q và bà Nguyễn Thị T thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, diện tích 733,8m², trong đó có 200m² đất ở tại nông thôn và 533,8m² đất trồng cây lâu năm. Sau khi cấp Giấy chứng nhận các bên không có khiếu nại hoặc thắc mắc gì. Như vậy, Hợp đồng đã thỏa mãn điều kiện về chủ thể, hình thức, nội dung phù hợp với quy định của Bộ luật dân sự; việc UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho ông Q, bà T là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

Ngày 23/7/2024, anh Nguyễn Xuân T1 đã nộp cho Tòa án đơn kháng cáo kèm theo 01 bản phô tô giấy vay tiền ghi ngày 17/10/2022 giữa anh T1 và ông Q với nội dung: ngày 17/10/2022 anh T1 có vay của ông Q bà T số tiền 700.000.000₫ có thế chấp GCNQSDĐ Thửa số 70, tờ bản đồ số 07, diện tích 733,8m² . Sau ba tháng tức là ngày 17/01/2023, anh T1 không trả được số tiền 756.000.000đ (cả gốc và lãi) cho ông bà Quyền T2 thì ông bà có quyền thanh lý bìa đất trên. Anh T1 khai nhận ngày 29/3/2023, ông Q đã tự ý đi sang tên giấy CNQSDĐ của anh sang tên ông T1. Việc làm này đã vi phạm cam kết ban đầu là thực hiện việc vay tiền. Bên cạnh đó gia đình anh sẵn sàng trả nợ chứ không hề thoái thác nghĩa vụ trả nợ cho ông Q. Vì vậy anh đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy Hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 18/10/2022 do đây là giao dịch giả tạo nhằm thực hiện việc vay tiền.

Ông Đinh Công Q không thừa nhận chữ ký, chữ viết của mình trong Giấy vay tiền. Tuy nhiên, căn cứ vào kết luận giám định của V - Bộ C2 đã có đủ căn cứ khẳng định chữ ký và chữ viết ở dưới mục người cho vay là do ông Đinh Công Q có ký và viết ra.

Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án ở cấp sơ thẩm anh T1 đều có lời khai đồng ý với yêu cầu của ông S; Anh không có yêu cầu độc lập. Quá trình giải quyết vụ án ở cấp phúc thẩm, anh T1 giao nộp cho Tòa án 01 giấy vay tiền ngày 17/10/2022 giữa anh và ông Q và đề nghị trưng cầu giám định. Sau khi Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ trưng cầu giám định có đủ căn cứ kết luận chữ ký và họ tên người cho vay là của ông Đinh Công Q. Như vậy trước đó anh T1 có vay của ông Q số tiền 700.000.000đ và được thế chấp bằng GCNQSDĐ của anh T1. Tuy nhiên theo giấy vay tiền trên thì anh T1 hẹn 03 tháng sẽ trả, đồng thời ngày 17/10/2022 anh T1 viết giấy vay tiền cho ông Q, đến ngày 18/10/2022 (sau 01 ngày) anh T1 và chị H lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Q bà T2. Như vậy có thể thấy ban đầu anh T1 vay tiền nhưng ngay ngày hôm sau anh T3 và chị H đã tự nguyện chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q bà T2. Việc chuyển tiền vào tài khoản cũng được chuyển vào ngày 18/10/2022. Mặt khác nếu cho rằng đây là hợp đồng giả tạo vì anh T1 cho rằng chưa đến hạn ông Q bà T2 đã tự đi làm thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không có căn cứ để chấp nhận; Bởi vì trong suốt thời gian hơn 01 năm kể từ khi vợ chồng ông Q, bà T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đến khi cấp sơ thẩm xét xử vụ án anh T1 không trả cho ông Q bà T2 được đồng nào và anh T1 cũng không có ý kiến gì đến việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Q và bà T2 và khi Toà án báo gọi đến làm việc anh T1 cũng không hợp tác. Mặt khác trong quá trình Toà án cấp sơ thẩm giải quyết anh T1 đều có lời khai đồng ý với yêu cầu của ông S và còn đề nghị ông Q chuyển nhượng lại cho ông S 111,6m² đất ông S đang sử dụng lấn chiếm vào đất của ông Q. Như vậy xác định đây là vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” giữa ông Q, bà T2 với ông S, bà P, quá trình giải quyết vụ án anh T1 không có yêu cầu độc lập. Do đó, kháng cáo của anh T1, chị H đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tuyên hủy Hợp đồng chuyển nhượng lập ngày 18/10/2022 giữa vợ chồng anh với ông bà Quyền T2 là vượt quá phạm vi xét xử phúc thẩm, nên kháng cáo của anh T1, chị H không được chấp nhận.

Quá trình giải quyết, ông S yêu cầu anh T1, chị H có trách nhiệm mua lại từ nguyên đơn phần diện tích đất đang tranh chấp 111,6m² là không có căn cứ bởi: Toàn bộ phần diện tích đất đang có tranh chấp trước đó ông S, bà P đã cho vợ chồng anh T1, chị H và anh, chị đã chuyển nhượng lại cho ông Q, bà T2. Tuy nhiên, hiện tại ông S, bà P lại là người đang sử dụng lấn sang đất của ông Q, bà T2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông bà phải có trách nhiệm trả lại phần đất không thuộc quyền sử dụng của mình cho ông Q bà T2 là phù hợp.

Đối với phần đất của ông Q, bà T2 tiếp giáp với nhà ông S, bà P có diện tích là 37m², trong đó có 13,6m² nằm dưới mái tôn, đã lát gạch, giáp với bậc thềm hè của ông S bà P nếu ông Q, bà T2 sử dụng thì phải tháo dỡ toàn bộ phần mái của nhà ông S, bà P, sẽ ảnh hưởng đến kết cấu công trình xây dựng, gây khó khăn cho nhu cầu sử dụng của các bên. Mặt khác, tại phiên tòa sơ thẩm nguyên đơn cũng thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện, đồng ý chuyển nhượng lại cho bị đơn 37m². Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông S bà P có trách nhiệm chuyển nhượng và thanh toán tiền cho ông Q bà T2, tương ứng theo Biên bản định giá ngày 18/01/2024 là: 953.938 đồng/1m² x 37m² = 35.295.706đ. Phần còn lại 74,6m² buộc ông S bà P trả lại cho nguyên đơn đúng hiện trạng như khi được cấp GCNQSDĐ là hợp lí và đúng quy định của pháp luật. Xong tại phiên tòa phúc thẩm ông Q, bà T2 tự nguyện không yêu cầu ông S, bà P phải thanh toán số tiền 35.295.706đ. Do vậy cần ghi nhận sự tự nguyện này.

Từ những phân tích, nhận định nêu trên: Xét thấy kháng cáo của ông S, bà P được chấp nhận một phần; Còn kháng cáo của anh T1, chị H không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do vậy, cần sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số 04/2024/DS-ST ngày 12/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp nên được chấp nhận.

[2] Về chi phí tố tụng: Ông Đinh Công Q tự nguyện chịu toàn bộ chi phí giám định số tiền là 6.711.000₫ (sáu triệu bẩy trăm mười một nghìn đồng). Xác nhận đã nộp.

[3] Về án phí: Do bản án sơ thẩm bị sửa một phần nên ông S, bà P và anh T1, chị H không phải chịu án phí phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P,

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H.

Sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 12 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Căn cứ khoản 1, khoản 10 Điều 1; Điều 166; khoản 1 Điều 167; khoản 1 Điều 168; điểm b khoản 1 Điều 169 và khoản 1 Điều 170 của Luật đất đai năm 2013.

Căn cứ Điều 5; khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 1 Điều 165; Điều 228; Điều 244 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12; Điều 14; khoản 2 Điều 15; khoản 2 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. [1]. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” của ông Đinh Công Q, bà Nguyễn Thị T đối với ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P. Buộc ông S, bà P trả lại cho ông Q, bà T diện tích 111,6m² đất đang lấn chiếm nằm trong Giấy chứng nhận số DI065158, số vào sổ CH00512, thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Việc trả lại đất sẽ được thực hiện như sau:
    • Ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P được quyền sử dụng diện tích đất 37m² của ông Đinh Công Q và bà Nguyễn Thị T nằm trong Giấy chứng nhận số DI065158, số vào sổ CH00512, thửa đất số 70, tờ bản đồ số 07, địa chỉ thửa đất tại khu M, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ và không phải thanh toán cho ông Q, bà T số tiền 35.295.706 đồng (ba mươi lăm triệu hai trăm chín mươi lăm nghìn bẩy trăm linh sáu đồng);
    • Buộc ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P, phải trả lại cho ông Đinh Công Q và bà Nguyễn Thị T diện tích đất còn lại là 74,6m², theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án;
    • Yêu cầu ông Q và bà T liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đúng với diện tích đất theo sơ đồ hiện trạng kèm theo bản án.
  2. [2]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P; Hoàn trả cho ông Đinh Công Q và bà Nguyễn Thị T 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004512 ngày 06/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.
  3. [3] Về chi phí tố tụng khác: Xác nhận ngày 12/01/2024, Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn đã nộp 5.000.000VNĐ (năm triệu đồng) tiền tạm ứng xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, đã sử dụng hết 3.500.000VNĐ (ba triệu năm trăm nghìn đồng); Xác nhận ngày 07/3/2024, Tòa án trả lại cho Người đại diện của Nguyên đơn 1.500.000VNĐ (một triệu năm trăm nghìn đồng). Nay buộc ông S, bà P phải thanh toán số tiền 3.500.000VNĐ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) cho ông Q, bà T.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật ông Q, bà T có đơn yêu cầu thi hành án mà ông S, bà P chưa thi hành án thì còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền chưa thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 điều 357 và khoản 2 điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Ông Đinh Công Q phải chịu 6.711.000đ (sáu triệu bẩy trăm mười một nghìn đồng) tiền chi phí giám định. Xác nhận ông Q đã nộp và chi phí hết.

[4] Về án phí phúc thẩm: Ông Nguyễn Trường S và bà Lương Thị P; Anh Nguyễn Xuân T1 và chị Trần Thị H không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả lại cho anh Nguyễn Xuân T1 số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004674 ngày 23/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Phú Thọ;
  • - TAND huyện Tân Sơn;
  • - THADS huyện Tân Sơn;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hà Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2025/DS-PT ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 37/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger