|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số 37/2024/HS-ST Ngày 24 - 07 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tưởng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đinh Duy Quyết.
2. Ông Hoàng Quốc Trị.
Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: ông Trịnh Ngọc Hà - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2024/TLST-HS, ngày 24/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST - HS ngày 10/7/2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Đinh Hữu H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1989 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi ĐKHK thường trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; chỗ ở hiện nay: thôn Q, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: lớp 12/12; quốc tịch Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Đinh Hữu T và bà Nguyễn Thị H1; có vợ là Trần Thị M và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2015, con nhỏ nhất sinh năm 2021; tiền án, tiền sự : không; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/12/2023 hiện đang tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lê Văn T1, tên gọi khác: Không, sinh năm 1966 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn B, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: lớp 07/10; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn L (đã chết) và bà Đinh Thị Đ (đã chết); có vợ là Đinh Thị B và có 02 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1994; tiền án, tiền sự : không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Trần Hiến T2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1987 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn M, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Văn T3 và bà Đặng Thị O; có vợ là Bùi Thị T4 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2009, con nhỏ nhất sinh năm 2014; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: tại bản án số 09/2014/HSST ngày 02/04/2014 của TAND huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình xử phạt 7.000.000đ về tội: “Đánh bạc” chấp hành xong ngày 15/12/2014; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Trần Thị Thúy H2, tên gọi khác: Không, sinh năm 1976 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; giới tính: nữ; trình độ văn hoá: lớp 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Trần Anh N (đã chết) và bà Đinh Thị S; có chồng là Nguyễn Xuân T5 và có 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2001; tiền án, tiền sự : không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Nguyễn Xuân Đ1, tên gọi khác: Không, sinh năm 1987 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: không; giới tính: nam; trình độ văn hoá: lớp 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Xuân Đ2 và bà Nguyễn Thị B1; có vợ là Nguyễn Thị H3 và có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự : không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/02/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Anh Vũ Hồng T6, sinh năm 1986; trú tại: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- Anh Đinh Hoài V, sinh năm 1982; trú tại: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
- Chị Bùi Thị T4, sinh năm 1988; trú tại: thôn M, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt).
- Chị Trần Thị M, sinh năm 1992; trú tại: thôn T, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (có mặt).
- Anh Chẩu Văn Q, sinh năm 2004; trú tại: thôn R, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).
- Chị Vương Thị Mỹ L1, sinh năm 1987; trú tại: khu phố E, D, P, Kiên Giang (vắng mặt).
- Anh Kiều Văn T7, sinh năm 1982; trú tại: xóm N, B, xã L, huyện M, thành phố Hà Nội (vắng mặt).
- Chị Trần Thị H4, sinh năm 1985; trú tại: xóm D, xã L, huyện G, tỉnh Ninh Bình (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Đinh Hữu H là người không có nghề nghiệp ổn định, để có thêm thu nhập H đã nảy sinh ý định đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề với người chơi để kiếm lời. Qua các mối quan hệ, H biết Trần Hiến T2, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 có nhu cầu đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề nên chủ động gặp và đặt vấn đề bằng hình thức mua, bán số lô, số đề với T2, T1, Thúy H2 và Đ1 và được T2, T1, T, Đại đồng ý. Hằng ngày, Đinh Hữu H ở nhà tại thôn Q, xã G, huyện G sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, lắp thuê bao di động số 0971.283.725, chủ thuê bao là Trần Thị M, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã G, huyện G (là vợ của Đinh Hữu H) để giao dịch mua, bán số lô, số đề với người chơi. Đồng thời, H còn sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen, lắp 01 thuê bao di động số 0379.097.529, chủ thuê bao là Nguyễn Đức N1, sinh ngày 25/7/2000, hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã G, huyện G, đăng ký gắn vào tài khoản ngân hàng số 0108461502101 mang tên Chẩu Văn Q, sinh năm 2004, địa chỉ: thôn R, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang và 01 thuê bao di động số 0377.291.918 của H để liên lạc và thanh toán thắng, thua với người chơi qua tài khoản ngân hàng nêu trên. Thạo sử dụng điện thoại nhãn hiệu SamSung Galaxy S7, vỏ màu bạc, lắp thuê bao số 0383.919.819, chủ thuê bao là Kiều Văn T7, sinh ngày 27/07/1982, trú tại Xóm N, B, L, M, Hà Nội; T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, lắp thuê bao số 0867.982.262, chủ thuê bao là Trần Thị H4, sinh ngày 27/8/1985, hộ khẩu thường trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; Đ1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max, màu đen, lắp số thuê bao 0979.810.024 của Đ1; Thúy H2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, vỏ màu xanh, lắp thuê bao số 0942.289.778, chủ thuê bao là Vương Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/09/1987, trú tại Khu phố E, D, P, Kiên Giang. Thạo, T2, Đ1 và Thúy H2 sử dụng các số điện thoại nêu trên để nhắn tin SMS đến số điện thoại di động 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để đánh bạc bằng cách ghi các số lô, số đề với Đinh Hữu H. Sau khi có kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc hằng ngày, Đinh Hữu H tự tổng hợp tính toán thắng, thua và thanh toán tiền thắng, thua với người chơi vào ngày hôm sau bằng tiền mặt tại nhà H hoặc chuyển khoản thông qua số tài khoản ngân hàng. Cách thức chơi số lô, số đề như sau: đối với “Số lô” là số có hai chữ số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99, căn cứ vào kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở trong ngày, nếu trùng với hai số cuối của các giải thưởng của kết quả xổ số Miền Bắc thì trúng, giá trị tiền mua số lô được tính theo điểm cụ thể như sau: số lô Hà Nội có giá trị là 23.000 đồng/01 điểm lô, tuy nhiên để khuyến khích người chơi H và các đối tượng đã thống nhất: H bán cho T1 với giá là 21.900 đồng/1 điểm, bán cho T2 với giá là 22.500 đồng/1 điểm, bán cho Đ1 với giá là 22.000 đồng/1 điểm, bán cho Thúy H2 với giá 21.900 đồng/1 điểm, nếu trúng sẽ được trả mỗi điểm lô Hà Nội là 80.000đồng. Đối với “Số đề” là 2 số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99, người mua mà trùng với hai số cuối của giải đặc biệt xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày thì được trả số tiền = 80 lần số tiền mua số đề. Tuy nhiên, để khuyến khích người chơi, H2 và các đối tượng đã thống nhất H2 sẽ chiết khấu % cho người chơi và trả như sau: chiết khấu cho T1 và T2 10% tổng tiền mua và trả thưởng gấp 84 lần số tiền mua số đề; chiết khấu cho Đ1 và Thúy H2 16% tổng tiền mua và trả thưởng gấp 80 lần số tiền mua số đề. Đối với “số lô 3 càng” là bộ có 3 số tự nhiên bất kỳ từ 000 đến 999, căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền B mở thưởng trong ngày, nếu trùng với 3 số cuối cùng của giải đặc biệt thì người bán phải trả tiền cho người mua gấp 400 lần số tiền mua “số lô ba càng”. Đối với “Lô xiên” là bộ có 2 số tự nhiên bất kỳ từ 00 đến 99: bộ có hai số người chơi ký hiệu là “X2” hoặc “Xiên 2”; bộ có ba số người bán ký hiệu là là “X3” hoặc “Xiên 3”; bộ có bốn số người chơi ký hiệu là là “X4” hoặc “Xiên 4”. Căn cứ kết quả xổ số kiến thiết Miền B trong ngày, nếu toàn bộ các số trong lô xiên mà trùng với hai số cuối của 27 giải thưởng xổ số thì người mua trúng lô xiên và người bán phải trả tiền cho người mua lô xiên theo tỷ lệ: “lô xiên hai” được 10 lần số tiền bỏ ra, “lô xiên ba” được 40 lần số tiền bỏ ra, “lô xiên bốn” được 100 lần số tiền bỏ ra. Với cách thức như trên Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Hiến T2, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 đã nhiều lần đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề được, thua bằng tiền. Cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: hồi 17 giờ 33 phút ngày 14/12/2023, T1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 7.390.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho T1 để xác nhận. Trong ngày T1 trúng các số lô, số đề với số tiền là 1.840.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của T1 và H ngày 14/12/2023 là 9.230.000 đồng. (Gồm tiền mua số lô, số đề là 7.390.000 đồng và số tiền thắng bạc là 1.840.000 đồng). Thạo và H đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 14/12/2023, Đ1 nhắn tin nhắn SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 1.590.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Đại để xác nhận. Trong ngày Đ1 trúng số lô, số đề với số tiền là 800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Đ1 và H ngày 14/12/2023 là 2.390.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 1.590.000 đồng và số tiền thắng bạc là 800.000 đồng). Đ1 và H đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ ngày 14/12/2023 Thúy H2, nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 3.065.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Thúy H2 để xác nhận. Trong ngày Thúy H2 trúng số lô, số đề với số tiền là 5.600.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Thúy H2 và H2 ngày 14/12/2023 là 8.665.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 3.065.000 đồng và số tiền thắng bạc là 5.600.000 đồng). Thúy H2 và H2 đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 00 phút ngày 14/12/2023, T2 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 18.700.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho T2 để xác nhận. Trong ngày T2 trúng số lô, số đề với số tiền là 24.000.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và H ngày 14/12/2023 là 42.700.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 18.700.000 đồng và tiền thắng bạc là 24.000.000 đồng). T2 và H chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Như vậy, tổng số tiền Đinh Hữu H sử dụng vào việc đánh bạc với T1, T2, Đ1 và Thúy H2 ngày 14/12/2023 là 62.985.000 đồng.
Lần thứ hai: khoảng 17 giờ 40 phút ngày 15/12/2023, T1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của H2 để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 8.540.000 đồng. H2 đồng ý và nhắn tin “1” cho T1 để xác nhận. Trong ngày T1 trúng số lô, số đề với số tiền là 4.880.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của H2 và Thạo ngày 15/12/2023 là 13.420.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 8.540.000 đồng và tiền thắng bạc là 4.880.000 đồng). Thạo và H2 chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Lần thứ ba: khoảng 17 giờ 42 phút ngày 19/12/2023, T2 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 3.550.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho T2 để xác nhận. Trong ngày T2 không trúng số nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và H ngày 19/12/2023 là 3.550.000 đồng. T2 và H chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 58 phút ngày 19/12/2023, Thúy H2 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 2.566.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Thúy H2 để xác nhận. Trong ngày Thúy H2 không trúng số nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Thúy H2 và Đinh Hữu H ngày 19/12/2023 là 2.566.000 đồng. Thúy H2 và H2 đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Như vậy, tổng số tiền Đinh Hữu H sử dụng vào việc đánh bạc với T2 và Thúy H2 ngày 19/12/2023 là 6.116.000 đồng.
Lần thứ tư: khoảng 17 giờ 45 phút ngày 22/12/2023, T1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 7.260.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho T1 để xác nhận. Trong ngày T1 trúng các số lô, số đề với số tiền là 13.360.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của T1 và H trong ngày 22/12/2023 là 20.620.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 7.260.000 đồng và tiền thắng bạc là 13.360.000 đồng). Thạo và H chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 22/12/2023, Đ1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 1.780.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Đại để xác nhận. Trong ngày Đ1 không trúng số nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Đ1 và H ngày 22/12/2023 là 1.780.000 đồng. Đ1 và H đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Như vậy, tổng số tiền Đinh Hữu H sử dụng vào việc đánh bạc với T1 và Đ1 ngày 22/12/2023 là 22.400.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 9.040.000 đồng và tiền thắng bạc là 13.360.000 đồng).
Lần thứ năm: khoảng 17 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, Đ1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề của H với tổng số tiền là 1.520.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Đại để xác nhận. Trong ngày Đ1 trúng các số lô, số đề với số tiền là 3.200.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Đ1 và H ngày 25/12/2023 là 4.720.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 1.520.000 đồng và tiền thắng bạc là 3.200.000 đồng). Đ1 và H đã thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 42 phút ngày 25/12/2023, Thúy H2 nhắn tin đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 450.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Thúy H2 để xác nhận. Trong ngày Thúy H2 không trúng số nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Thúy H2 và Đinh Hữu H ngày 25/12/2023 là 450.000 đồng. Thúy H2 và H2 chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Như vậy, tổng số tiền Đinh Hữu H sử dụng vào việc đánh bạc với Đ1 và Thúy H2 ngày 25/12/2023 là 5.170.000 đồng.
Lần thứ sáu: khoảng 17 giờ 30 phút ngày 26/12/2023, T2 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám, mượn của chị Bùi Thị T4, sinh năm 1988, trú tại thôn M, xã G, huyện G (là vợ của T2), lắp số thuê bao 0989.920.166 của T2 vào máy điện thoại này nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 500.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho T2 để xác nhận. Trong ngày T2 không trúng số nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa T2 và H ngày 26/12/2023 là 500.000 đồng. T2 và H chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 38 phút ngày 26/12/2023, T1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề với tổng số tiền là 11.886.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho T1 để xác nhận. Trong ngày T1 trúng các số lô, số đề với số tiền là 11.860.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc của T1 và H ngày 26/12/2023 là 23.566.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 11.886.000 đồng và tiền thắng bạc là 11.860.000 đồng). Thạo và H chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 13 phút ngày 26/12/2023, Đ1 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề của H với tổng số tiền là 1.880.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Đại để xác nhận. Trong ngày Đ1 trúng các số lô, số đề với số tiền 4.800.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Đ1 và Đinh Hữu H trong ngày 26/12/2023 là 6.680.000 đồng (Gồm tiền mua số lô, số đề là 1.880.000 đồng và tiền thắng bạc là 4.800.000 đồng). Đ1 và H chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Khoảng 17 giờ 49 phút ngày 26/12/2023, Thúy H2 nhắn tin SMS đến số điện thoại 0971.283.xxx của Đinh Hữu H để ghi các số lô, số đề của H với tổng số tiền là 1.650.000 đồng. H đồng ý và nhắn tin “1” cho Thúy H2 để xác nhận. Trong ngày Thúy H2 không trúng số nào. Như vậy, tổng số tiền đánh bạc giữa Thúy H2 và Đinh Hữu H trong ngày 26/12/2023 là 1.650.000 đồng. Thúy H2 và H2 chưa thanh toán tiền thắng, thua với nhau.
Như vậy, tổng số tiền Đinh Hữu H sử dụng vào việc đánh bạc với T1, T2, Đ1 và Thúy H2 ngày 26/12/2023 là 32.396.000 đồng.
Ngày 25/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G nhận được đơn tố giác của quần chúng nhân dân về việc các đối tượng Trần Hiến T2, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề. Khoảng 18 giờ 35 phút ngày 26/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G phối hợp với Công an xã G và Công an xã G đến nhà Trần Hiến T2, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 để xác minh nội dung đơn tố giác. Quá trình làm việc với Cơ quan Công an các đối tượng đều khai nhận hành vi đánh bạc bằng hình thức mua, bán số lô, số đề với Đinh Hữu H ngày 26/12/2023, cụ thể: T2 đánh bạc với H với tổng số tiền 500.000 đồng; T1 đánh bạc với H với tổng số tiền 23.566.000 đồng; Thúy H2 đánh bạc với H2 với tổng số tiền 1.650.000 đồng và Đ1 đánh bạc với H2 với tổng số tiền 6.680.000 đồng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã triệu tập Đinh Hữu H để làm rõ hành vi mua, bán số lô, số đề nêu trên. Đinh Hữu H thừa nhận ngày 26/12/2023, H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh, bên trong lắp sim thuê bao di động số 0971.283.725 để nhắn tin bán số lô, số đề cho T2, T1, Thúy H2 và Đ1 với tổng số tiền là 32.396.000 đồng. Ngoài ra, Đinh Hữu H còn khai nhận về các lần đánh bạc khác trong các ngày 14/12/2023 với T2, T1, Thúy H2 và Đ1 với tổng số tiền là 62.985.000 đồng; ngày 15/12/2023 với T1 với tổng số tiền là 13.420.000 đồng; ngày 19/12/2023 với T2 và Thúy H2 với tổng số tiền là 6.116.000 đồng; ngày 22/12/2023 với T1 và Đ1 với tổng số tiền là 22.400.000 đồng; ngày 25/12/2023 với Thúy H2 và Đ1 với tổng số tiền là 5.170.000 đồng.
Trong quá trình điều tra giải quyết vụ án, Trần Hiến T2 đã khai nhận về hành vi "Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự". Cụ thể: từ ngày 17/11/2022 đến ngày 26/12/2023, tại xã G, T2 đã cho anh Vũ Hồng T6, sinh năm 1986 và anh Đinh Hoài V, sinh năm 1982, cùng trú tại thôn P, xã G vay với lãi suất 3.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày tương đương 109,5%/năm, cao gấp 5,475 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự. Việc vay tiền, tính lãi suất, trả tiền lãi, tiền gốc và thanh toán giữa T2 và 02 người vay trên như sau:
- Từ ngày 17/11/2022 đến ngày 26/12/2023, anh T6 vay tiền của T2 02 lần với tổng số tiền là 45.000.000 đồng, lãi suất là 3.000 đồng/1.000.000 đồng/01 ngày, lãi suất tính theo ngày. Cụ thể:
Lần thứ nhất: Ngày 17/11/2022, anh T6 hỏi vay T2 số tiền 30.000.000 đồng, T2 đồng ý cho anh T6 vay. T2 ở nhà sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim thuê di động số 0989.920.166 của T2, có cài đặt ứng dụng Ngân hàng M1, đăng nhập số tài khoản 0989920166 mang tên TRAN HIEN THANH chuyển số tiền 30.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng M1 số 2300163336333 mang tên VU HONG TAI của anh T6.
Từ ngày 19/12/2022, anh T6 đã trả lãi cho Trần Hiến T2 qua số tài khoản Ngân hàng M1 số 2300163336333 của T2, cụ thể như sau: ngày 19/12/2022, trả lãi số tiền 2.700.000 đồng; ngày 18/01/2023, trả lãi số tiền 2.700.000 đồng; ngày 17/02/2023, trả lãi số tiền 2.700.000 đồng; ngày 20/3/2023, trả lãi số tiền 2.700.000 đồng; ngày 18/5/2023, trả lãi số tiền 5.400.000 đồng; ngày 09/9/2023, trả lãi số tiền 650.000 đồng; ngày 09/10/2023, trả lãi số tiền 980.000 đồng; ngày 23/12/2023, trả số tiền gốc 30.000.000 đồng; ngày 28/12/2023, trả lãi số tiền 10.000.000 đồng. Ngoài ra, tháng 6 năm 2023 anh T6 trả lãi số tiền 2.700.000 đồng; tháng 7 năm 2023, trả lãi số tiền 2.700.000 đồng bằng tiền mặt.
Như vậy, đối với lần vay này anh T6 vay của T2 số tiền 30.000.000 đồng trong thời gian 401 ngày. Tổng số tiền lãi mà T2 đã tính cho anh T6 là 36.090.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự đối với khoản vay này là 6.591.780 đồng. Số tiền T2 thu lời bất chính đối với khoản vay này là 29.498.220 đồng. Tổng số tiền mà T2 đã thu của anh T6 là 63.230.000 đồng (gồm: tiền gốc 30.000.000 đồng và tiền lãi 33.230.000 đồng). Số tiền anh T6 còn nợ T2 là 2.860.000 đồng.
Lần thứ hai: Ngày 27/01/2023, anhTài hỏi vay T2 số tiền 15.000.000 đồng, T2 đồng ý cho anh T6 vay. T2 ở nhà sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim thuê di động số 0989.920.166 của T2, có cài đặt ứng dụng Ngân hàng M1, đăng nhập số tài khoản 0989920166 mang tên TRAN HIEN THANH chuyển số tiền 15.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng M1 số 2300163336333 mang tên VU HONG TAI của anh T6.
Anh T6 đã trả lãi và gốc cho Trần Hiến T2 qua số tài khoản Ngân hàng M1 số 2300163336333 của T2, cụ thể như sau: ngày 20/3/2023, trả lãi số tiền 1.350.000 đồng; ngày 18/5/2023, trả lãi số tiền 2.700.000 đồng; ngày 09/9/2023, trả lãi số tiền 1.350.000 đồng; ngày 09/10/2023, trả tiền gốc 15.000.000 đồng và lãi số tiền 2.020.000 đồng. Ngoài ra, tháng 7 năm 2023 anh T6 trả lãi cho T2 số tiền 4.050.000 đồng bằng tiền mặt. Đối với lần vay này anh T6 vay của T2 số tiền 15.000.000 đồng trong thời gian 255 ngày. Tổng số tiền lãi mà T2 đã tính cho anh T6 là 11.475.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự đối với khoản vay này là 2.095.890 đồng. Số tiền T2 thu lời bất chính đối với khoản vay này là 9.379.110 đồng. Tổng số tiền mà T2 đã thu của anh T6 đối với lần vay này là 26.470.000 đồng (gồm: tiền gốc 15.000.000 đồng và tiền lãi 11.470.000 đồng). Số tiền anh T6 còn nợ T2 là 5.000 đồng.
Như vậy, anh T6 vay của T2 số tiền 30.000.000 đồng trong khoảng thời gian 401 ngày, kể từ ngày 17/11/2022 đến ngày 23/12/2023; số tiền 15.000.000 đồng trong 255 ngày, kể từ ngày 27/01/2023 đến ngày 09/10/2023. Tổng số tiền lãi mà T2 đã tính cho anh T6 là 47.565.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự đối với khoản vay này là 8.687.670 đồng. Số tiền T2 thu lời bất chính từ khoản vay này là 38.877.330 đồng. Tổng số tiền mà T2 đã thu của anh T6 đối với lần vay này là 89.700.000 đồng (gồm: tiền gốc 45.000.000 đồng và tiền lãi 44.700.000 đồng). Số tiền anh T6 còn nợ T2 là 2.865.000 đồng (gồm 2.860.000 đồng lãi lần vay thứ nhất và 5.000 đồng lãi lần vay thứ 2).
- Ngày 06/10/2023, anh V hỏi vay T2 số tiền 200.000.000 đồng, T2 đồng ý cho anh V vay. T2 ở nhà sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu vàng, bên trong lắp sim thuê di động số 0989.920.166 của T2, có cài đặt ứng dụng Ngân hàng M1, đăng nhập số tài khoản 0989920166 mang tên TRAN HIEN THANH chuyển số tiền 200.000.000 đồng đến tài khoản Ngân hàng M1 số [...] mang tên DINH HOAI VU, của anh V. Ngày 12/11/2023, anh V trả lãi cho T2 số tiền là 18.000.000 đồng bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng; ngày 05/02/2024, anh V đã trả cho T2 số tiền 200.000.000 đồng số tiền gốc đã vay bằng hình thức chuyển tiền qua tài khoản ngân hàng. Đối với lần vay này, anh V vay của T2 số tiền 200.000.000 đồng trong thời gian 80 ngày. Tổng số tiền lãi mà T2 đã tính cho anh V là 48.000.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự đối với khoản vay này là 8.767.123 đồng. Số tiền T2 thu lời bất chính đối với khoản vay này là 39.232.877 đồng. Tổng số tiền T2 đã thu của anh V là 218.000.000 đồng (gồm: 200.000.000 đồng tiền gốc và 18.000.000 đồng tiền lãi). Số tiền anh V còn nợ T2 là 30.000.000 đồng tiền lãi.
Như vậy, từ ngày 17/12/2022 đến ngày 26/12/2023 tổng số tiền T2 cho anh T6 và anh V vay là 245.000.000 đồng. Tổng số tiền lãi mà T2 đã tính cho người vay là 97.565.000 đồng. Số tiền lãi tối đa theo quy định tại Điều 468, Bộ luật dân sự đối với khoản vay này là 17.454.793 đồng. Số tiền T2 thu lời bất chính đối với khoản vay này là 78.110.207 đồng. Tổng số tiền T2 đã thu của 02 người vay là 307.700.000 đồng (bao gồm 245.000.000 đồng tiền gốc và 62.700.000 đồng tiền lãi). Số tiền người vay còn nợ T2 là 32.865.000 đồng tiền lãi.
Tại Bản cáo trạng số 39/CT- VKS- GV, ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố các bị cáo Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Đánh bạc” theo khoản 1, 2 và khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự; Truy tố bị cáo Trần Hiến T2 về tội: “Đánh bạc” và tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 và khoản 1, khoản 3 Điều 201 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 phạm tội: “Đánh bạc”; bị cáo Trần Hiến T2 phạm tội: “Đánh bạc” và tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Áp dụng điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm r, s, t khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đinh Hữu H 12 tháng đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giam ngày 28/12/2023. Phạt bổ xung 10.000.000đ đến 12.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự . Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 từ 15 (mười lăm) tháng đến 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T1 cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 10% đến 15% trong thời gian cải tạo không giam giữ. phạt bổ xung 10.000.000đ đến 12.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 1 Điều 201; các điểm r, s khoản1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Hiến T2 từ 12 tháng (mười hai) tháng đến 15(mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T2 cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập hàng tháng từ 10% đến 15% trong thời gian cải tạo không giam giữ. phạt bổ xung 10.000.000đ đến 12.000.000đ sung công quỹ Nhà nước về tội: “Đánh bạc”. Phạt tiền từ 90.000.000đ đến 100.000.000đ về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” sung công quỹ Nhà nước.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt tiền Trần Thị Thúy H2 từ 26.000.000đ đến 27.000.000₫
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Phạt tiền Nguyễn Xuân Đ1 từ 21.000.000đ đến 22.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S7, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu vàng và số tiền sử dụng vào việc phạm tội mà các bị cáo đã nộp, gồm: bị cáo Đinh Hữu H 15.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0001365 ngày 22/7/2024; bị cáo Lê Văn T1 10.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0001362 ngày 27/6/2024; bị cáo Trần Hiến T2 22.700.000đ tại biên lai thu tiền số 0001360 ngày 11/6/2024; bị cáo Trần Thị Thúy H2 7.700.000đ tại biên lai thu tiền số 0001361 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn.
- Truy thu số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc sung ngân sách Nhà nước cụ thể: bị cáo Đinh Hữu H phải nộp 61.811.000đ; bị cáo Lê Văn T1 nộp 19.346.000đ và bị cáo Nguyễn Xuân Đ1 5.880.000₫.
Truy thu số tiền 262.564.383đ (trong đó 245.000.000đ tiền gốc bị cáo T2 cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và 17.564.383 tiền lãi) buộc bị cáo Trần Hiến T2 phải nộp 262.564.383đ.
Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội. Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa các bị cáo nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì. Được nói lời sau cùng, các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến, vật chứng thu giữ. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: bị cáo Đinh Hữu H không có công ăn việc làm ổn định, để kiếm thêm thu nhập, bị cáo Hà n sinh ý định đánh bạc kiếm lời bằng hình thức bán số lô, số đề trái phép cho các bị cáo Lê Văn T1, Trần Hiến T2, Nguyễn Xuân Đ1 và Trần Thị Thúy H2, nếu người mua số lô, số đề trùng với kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng trong ngày, thị bị cáo H2 trả thưởng theo tỷ lệ số đề (hai số tự nhiên) gấp 80 lần, số đề (ba số tự nhiên) gấp 400 lần; lô xiên bộ có hai cặp số mỗi cặp có 2 số gấp 10 lần; bộ có ba cặp số gấp 40 lần; bộ có bốn cặp số gấp 100 lần số tiền bỏ ra mua. Từ ngày 14/12/2023 đến ngày 26/12/2023, các bị cáo có hành vi mua, bán số lô, số đề trái phép mỗi lần tiền mua và tiền trúng thưởng trên 5.000.000đ cụ thể như sau:
- Bị cáo Thạo 04 lần mua số lô, số đề vào các ngày 14/12/2023 là 7.390.000₫, trúng thưởng 1.840.000đ, đã thanh toán tiền mua và tiền trúng thưởng; Ngày 15/12/2023 là 8.540.000đ, trúng thưởng 4.880.000đ; Ngày 22/12/2023 là 7.260.000đ, trúng thưởng là 13.360.000đ và ngày 26/12/2023 là 11.886.000đ, trúng thưởng là 11.860.000đ. Cả ba lần này bị cáo T1 và bị cáo H2 chưa thanh toán tiền mua và tiền trúng thưởng cho nhau.
- Bị cáo T2 một lần mua số lô số đề của bị cáo H2 ngày 14/12/2024 là 18.700.000đ, trúng thưởng 24.000.000đ, bị cáo H2 và bị cáo T2 chưa thanh toán tiền mua và tiền trúng thưởng cho nhau.
- Bị cáo Thúy H2 một lần mua số lô số đề của bị cáo H2 ngày 14/12/2024 là 3.065.000₫ trúng thưởng 5.600.000đ bị cáo Thúy H2 và bị cáo H2 chưa thanh toán tiền mua và tiền trúng thưởng cho nhau.
- Bị cáo Đ1 01 lần mua số lô, số đề của bị cáo H2 ngày 26/12/2023 1.880.000₫, trúng thưởng 4.800.000đ bị cáo H2 và bị cáo Đ1 chưa thanh toán tiền mua và tiền trúng thưởng cho nhau.
Ngoài việc bị cáo Trần Hiến T2 mua số lô, số đề với bị cáo H2, bị cáo T2 dùng tiền cá nhân cho anh Vũ Hồng T6, sinh năm 1986 và anh Đinh Hoài v, sinh năm 1982 đều trú tại: thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình vay tiền với lãi xuất cao trong khoảng thời gian từ ngày 17/11/2022 đến ngày 26/12/2023 cụ thể: cho anh T6 vay 45.000.000đ và anh V 200.000.000đ với lãi xuất 3000đ/1.000.000đ/ngày tương đương 109,5%/năm cao gấp 5,475 lần mức lãi xuất cao nhất theo qui định trong Bộ luật dân sự, bị cáo T2 đã thu lời bất chính 78.454.793₫.
[2] Các bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền và cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự là vi phạm pháp luật.
Điều 321: Tội đánh bạc
1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
2. Phạm tội thuộc trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.
....
b, T8 hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá 50.000.000đ trở lên.
....
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng.
Điều 201: Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên của mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.
....
3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm”.
Từ căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của các bị cáo Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 321 Bộ luật hình sự. Hành vi của bị cáo Trần Hiến T2 cấu thành tội: “Đánh bạc” và tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 1 Điều 321 và khoản 1 Điều 201 Bộ luật hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố các bị cáo là có căn cứ đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo Đinh Hữu H 06 lần thực hiện hành đánh bạc và bị cáo Lê Văn T1 04 lần thực hiện hành vi đánh bạc, mỗi lần đánh bạc đều có số tiền trên 5.000.000đ trở lên thuộc trường hợp phạm tội nhiều lần qui định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, còn các bị cáo Trần Hiến T2, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Các bị cáo Nguyễn Xuân Đ1 và Trần Thị Thúy H2, phạm tội lần đầu, tội phạm thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo H2 ngoài hành vi phạm tội đánh bạc ngày 26/12/2023 bị phát hiện bị cáo còn tự nguyện khai báo những lần phạm tội đánh bạc khác, bị cáo Trần Hiến T2 ngoài hành vi phạm tội đánh bạc bị phát hiện còn tự nguyện khai báo hành vi phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, nên bị cáo H2 và bị cáo T2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tự thú” quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; ngoài ra, bị cáo H2 đã tích cực hợp tác, giúp cơ quan điều tra trong việc phát hiện ra các lần phạm tội khác của bị cáo T2, T1 và bị cáo Thúy H2. Nên bị cáo H2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: “Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm” quy định tại điểm t khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Lê Văn T1 có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của UBND xã G, có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước hạng nhì; bị cáo H2 nộp 15.000.000đ; bị cáo Trần Hiến T2 nộp 22.750.000đ; bị cáo Lê Văn T1 nộp 10.000.000đ và bị cáo Trần Thị Thúy H2 nộp 7.700.000đ, số tiền các bị cáo đã dùng vào việc đánh bạc, nên các bị cáo H2, T1, T2 và Thúy H2 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: các bị cáo Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 có nhân thân tốt từ trước cho đến nay chưa có vi phạm pháp luật bị các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý; bị cáo Trần Hiến T2 đã từng bị đưa ra xét xử phạt tiền về tội đánh bạc.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án này thấy rằng: đây là vụ án đồng phạm giản đơn không có tính chất tổ chức, phân công nhiệm vụ, rủ rê, lôi kéo. Bị cáo H2 với vai trò chủ mưu khởi xướng rủ các bị cáo Lê Văn T1, Trần Hiến T2, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 tham gia đánh bạc với bị cáo H2, nên bị cáo H2 phải chịu mức hình phạt cao nhất trong vụ án này, các bị cáo còn lại phải chịu mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của mình.
[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt các bị cáo là tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo đủ nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân và cho xã hội đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: xét hành vi đánh bạc của các bị cáo nhằm thu lời bất chính nên cần áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với các bị cáo mới thể hiện được tính nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy cần áp dụng khoản 3 Điều 321 Bộ luật hình sự để phạt bổ sung đối với các bị cáo H2, T1 và T2.
Ngoài những lần đánh bạc như đã nêu trên bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn truy tố. Các bị cáo Đinh Hữu H, Trần Hiến T2, Nguyễn Xuân Đ1 và Trần Thị Thúy H2 còn nhiều lần mua, bán số lô, số đề, cụ thể như sau:
- Bị cáo H2 05 lần mua bán số lô, số đề trong các ngày 17/12/2023 với bị cáo T2 và bị cáo Đ1 với tổng số tiền 2.620.000 đồng; ngày 18/12/2023 với bị cáo Đ1 là 4.690.000 đồng và ngày 20/5/2023 là 1.440.000 đồng; ngày 23/12/2023 với bị cáo T2 là 3.850.000 đồng và ngày 24/12/2023 mua bán số lô, số đề với bị cáo Thúy H2 là 2.890.000 đồng.
- Bị cáo Đ1 06 lần mua bán số lô, số đề với bị cáo H2 trong các ngày 14/12/2023 là 4.390.000 đồng, ngày 17/12/2023 là 2.520.000 đồng; ngày 18/12/2023 là 4.690.000 đồng; ngày 20/12/2023 là 1.440.000 đồng; ngày 22/12/2023 là 1.780.000 đồng và ngày 25/12/2023 là 4.720.000đ,
- Bị cáo T2 04 lần mua bán số lô, số đề với bị cáo H2 trong các ngày 17/12/2023 là 100.000 đồng; ngày 19/12/2023 là 3.450.000 đồng; ngày 23/12/2023 là 3.850.000 đồng và ngày 26/12/2023 là 500.000 đồng.
- Bị cáo Thúy H2 04 lần mua bán số lô, số đề với bị cáo H2 trong các ngày 19/12/2023 là 2.566.000 đồng; ngày 24/12/2023 là 2.890.000 đồng; ngày 25/12/2023 là 450.000 đồng và ngày 26/12/2023 là 500.000 đồng.
Số tiền đánh bạc các lần của các bị cáo H2, T2, Đ1 và Thúy H2 đều dưới 5.000.000 đồng; bản thân bị cáo H2, T2, Đ1 và Thúy H2 đều chưa có tiền án, tiền sự về các tội: “Đánh bạc”, “Tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc”. Do đó, chưa đủ yếu tố cấu thành tội đánh bạc quy định tại Điều 321 Bộ luật hình sự. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện G đã ra Quyết định xử phạt hành chính, bằng hình thức “phạt tiền” đối với H2, T2, Đ1 và Thúy H2; đồng thời truy thu số tiền sử dụng vào việc mua bán số lô, số đề của các ngày mua bán số lô, số đề bị xử phạt hành chính là phù hợp với qui định của pháp luật.
Đối với chị Trần Thị M, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã G, huyện G (là vợ của bị cáo Đinh Hữu H) là người đăng ký thông tin chủ thuê bao 0971.283.725. Quá trình điều tra xác định, sau khi mua và đăng ký số thuê bao trên, do không có nhu cầu sử dụng chị M đưa cho H sử dụng để liên lạc, chị M không biết việc H sử dụng số thuê bao này vào mục đích đánh bạc. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với chị M.
Đối với anh Nguyễn Đức N1, sinh ngày 25/7/2000, hộ khẩu thường trú tại thôn H, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình là người đứng tên đăng ký thông tin chủ thuê bao 0379.097.529. Quá trình điều tra xác định số thuê bao 0379.097.529, được bị cáo H mua tại cửa hàng điện thoại không rõ địa chỉ, sau đó sử dụng để đăng ký tài khoản ngân hàng để sử dụng vào mục đích đánh bạc, anh N1 đã chết từ năm 2018. Vì vậy không có căn cứ để xử lý anh N1.
Đối với anh Chẩu Văn Q, sinh năm 2004, địa chỉ: thôn R, xã N, huyện V, tỉnh Hà Giang là người có thông tin cá nhân được đăng lý chủ số tài khoản 0108461502101 mang tên CHAU VAN QUYNH Ngân hàng B2 (L2). Quá trình điều tra xác định, anh Q không đăng ký tài khoản nêu trên và không có quan hệ gì với bị cáo H và không biết việc bị cáo H sử dụng tài khoản ngân hàng có thông tin đăng ký chủ tài khoản nêu trên để phạm tội. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với anh Q.
Đối với chị Vương Thị Mỹ L1, sinh ngày 09/09/1987, trú tại Khu phố E, D, P, Kiên G là người đứng tên chủ thuê bao 0942.289.778. Quá trình điều tra xác định số thuê bao trên Trần Thị Thúy H2 mua trên mạng xã hội, chị L1 không đăng ký số thuê bao trên và không biết ai sử dụng. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với chị L1.
Đối với anh Kiều Văn T7, sinh ngày 27/07/1982, trú tại Xóm N, B, L, M, Hà Nội người có thông tin đứng tên chủ thuê bao 0383919819. Quá trình điều tra xác định số thuê bao trên bị cáo T1 mua trên mạng xã hội, anh T7 không đăng ký số thuê bao trên và không biết ai sử dụng. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với anh T7.
Đối với chị Trần Thị H4, sinh ngày 27/8/1985, hộ khẩu thường trú tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình, là người đứng tên chủ thuê bao số thuê bao 0867.982.262. Quá trình điều tra xác định số Thuê bao trên T2 mua trên mạng xã hội, chị H4 không đăng ký số thuê bao trên và không quen biết với T2, không biết việc T2 sử dụng số điện thoại trên để dánh bạc. Vì vậy không có căn cứ để xử lý đối với chị H4.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền lãi thực tế bị cáo T2 thu lời bất chính của người vay là 45.135.617 đồng (trong tổng số tiền lãi thực tế 62.700.000 đồng bị cáo T2 đã thu của người vay). Ngày 6/6/2024 bị cáo T2 đã tự nguyện trả lại cho anh Vũ Hồng T6 số tiền 36.012.329 đồng, trả lại cho anh Đinh Hoài V số tiền 9.123.288 đồng. Anh T6 và anh V đã nhận đủ số tiền nêu trên và không có yêu cầu, đề nghị gì khác. Nên về trách nhiệm dân sự Hội đồng không xem xét giải quyết.
[8] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 15 Promax, vỏ màu xám. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Bùi Thị T4, sinh năm 1988, trú tại thôn M, xã G, huyện G (vợ của bị cáo Trần Hiến T2), chị T4 cho bị cáo Thanh mượn để liên lạc, chị T4 không biết việc bị cáo T2 sử dụng chiếc điện thoại trên để đánh bạc. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho chị T4 là phù hợp qui định của pháp luật; 01 chiếc máy tính xách tay nhãn hiệu Asus Vivo Book, vỏ màu bạc; 01 sạc máy tính, 01 chuột không dây vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, loại bàn phím, vỏ màu đen, thu giữ tại nhà của bị cáo Đinh Hữu H. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của chị Trần Thị M (vợ bị cáo H), sử dụng để cho các con học tập, không liên quan đến việc đánh bạc của bị cáo H. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho chị M là phù hợp qui định của pháp luật.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S7, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu vàng. Thu của các bị cáo H, T1, T2, Thúy H2 và Đ1, là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và số tiền sử dụng vào việc phạm tội các bị cáo tự nguyện nộp, gồm: bị cáo Đinh Hữu H 15.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0001365 ngày 22/7/2024; bị cáo Lê Văn T1 10.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0001362 ngày 27/6/2024; bị cáo Trần Hiến T2 22.700.000đ tại biên lai thu tiền số 0001360 ngày 11/6/2024; bị cáo Trần Thị Thúy H2 7.700.000đ tại biên lai thu tiền số 0001361 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn. Cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc đánh bạc, chưa thu giữ được cụ thể: bị cáo Đinh Hữu H là 61.811.000đ; bị cáo Lê Văn T1 là 19.346.000đ và bị cáo Nguyễn Xuân Đ1 là 5.880.000đ. Cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
- Đối với số tiền 262.564.383đ (trong đó 245.000.000đ tiền gốc bị cáo T2 cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự và 17.564.383 tiền lãi) bị cáo Trần Hiến T2 sử dụng vào việc phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”, chưa thu giữ được. Cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.
[9] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra vụ án và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
[11] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 3 Điều 321; các điểm r, s, t khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, đối với bị cáo Đinh Hữu H
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 và khoản 2; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 36 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn T1
- Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; khoản 1 Điều 201; các điểm r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trần Hiến T2
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Trần Thị Thúy H2.
- Căn cứ khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, đối với bị cáo Nguyễn Xuân Đ1.
- Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Tuyên bố: các bị cáo Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 phạm tội: “Đánh bạc”. Bị cáo Trần Hiến T2 phạm tội: “Đánh bạc” và tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”
- Xử phạt bị cáo Đinh Hữu H 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam 28/12/2023. Phạt bổ xung 12.000.000₫ sung công quỹ Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Lê Văn T1 18 (mười tám) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T1 cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập10% hàng tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ. Phạt bổ xung 10.000.000đ sung công quỹ Nhà nước.
- Xử phạt bị cáo Trần Hiến T2 15 tháng (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn cải tạo không giam giữ, tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an huyện G, tỉnh Ninh Bình nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo T2 cho UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình giám sát giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ, khấu trừ thu nhập10% hàng tháng trong thời gian cải tạo không giam giữ, phạt bổ xung 10.000.000đ sung công quỹ Nhà nước về tội: “Đánh bạc”. Phạt tiền 90.000.000đ về tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.
Phạt tiền bị cáo Trần Thị Thúy H2 26.000.000đ; bị cáo Nguyễn Xuân Đ1 22.000.0000đ.
2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:
- Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, vỏ màu xanh đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung galaxy S7, vỏ màu bạc; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi Note 11, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XSMax, vỏ màu vàng (Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn, ngày 24/6/2023).
Tich thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền sử dụng vào việc phạm tội các bị cáo tự nguyện nộp, gồm: bị cáo Đinh Hữu H 15.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0001365 ngày 22/7/2024; bị cáo Lê Văn T1 10.000.000đ tại biên lai thu tiền số 0001362 ngày 27/6/2024; bị cáo Trần Hiến T2 22.700.000đ tại biên lai thu tiền số 0001360 ngày 11/6/2024; bị cáo Trần Thị Thúy H2 7.700.000đ tại biên lai thu tiền số 0001361 ngày 24/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn.
- Truy thu số tiền các bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội: “Đánh bạc”, sung ngân sách Nhà nước, cụ thể: bị cáo Đinh Hữu H là 61.811.000đ; bị cáo Lê Văn T1 là 19.346.000đ; bị cáo Nguyễn Xuân Đ1 là 5.880.000đ và số tiền bị cáo Trần Hiến T2 sử dụng vào việc phạm tội: “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là 262.564.383đ (trong đó 245.000.000đ tiền gốc và 17.564.383 tiền lãi)
3. Về án phí: các bị cáo Đinh Hữu H, Lê Văn T1, Trần Hiến T2, Trần Thị Thúy H2 và Nguyễn Xuân Đ1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.
Người phải thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đinh Xuân Tưởng |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về hình sự
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đinh Hữu Hà và đồng bọn PT đánh bạc và cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự
