Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ CHƠN THÀNH

TỈNH BÌNH PHƯỚC

Số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 24 - 4 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

— Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Thu An

Bà Hồ Thị Xuân Thiều

Thư ký phiên toà: Bà Vũ Thị Vi – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Thân Văn Chẻo – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/HSST ngày 22 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/HSST-QĐ ngày 01/4/2024 đối với các bị cáo:

  1. Lâm Văn D, sinh năm 1988 tại tỉnh Cà Mau; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: ấp T, xã T, huyện Đ, tỉnh Cà Mau; Chỗ ở: Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: Không biết chữ; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Khơme; Tôn giáo: Không; Con ông: Lâm Văn L, sinh năm 1946 (đã chết) và bà Thạch Ú, sinh năm: 1948; Bị cáo sống chung như vợ chồng với bà Vũ Thị H, sinh năm 1982; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa

  2. Nguyễn Trung H1, sinh năm 1996 tại tỉnh Sóc Trăng; Tên gọi khác: Không; Nơi đăng ký HKTT: Ấp T, xã T, thị xã N, tỉnh Sóc Trăng; Chỗ ở: Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: Công nhân; Giới tính: Nam; Trình độ văn hóa: 5/12; Quốc tịch: Việt Nam, Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh năm 1967 và bà Lê Thị P, sinh năm: 1969; Bị cáo có vợ là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1999; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 cho đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Vũ Thị H, sinh năm 1982; Địa chỉ: Tổ I, khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1 là đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy. Hiện cả hai đang làm công nhân tại xưởng ván lạng P1, địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Thông qua việc sử dụng ma túy, D biết một người tên S (chưa rõ nhân thân) là người bán ma túy đá cho một số người nghiện là công nhân làm tại các xưởng ván lạng ở khu vực khu phố A, phường H, thị xã C nên khi có nhu cầu sử dụng ma túy thì D nhờ số người nghiện gọi điện cho S mua ma túy, trung bình số tiền D mua ma túy là 200.000đ/lần. Khi gọi điện, S là người hẹn địa điểm để mua bán (địa điểm mua bán không cố định), theo điểm hẹn, D gặp S mua ma túy và trả tiền. Khoảng 18 giờ ngày 08/01/2024, sau khi tan ca làm việc, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên D rủ H1 cùng hùn tiền mua 500.000₫ ma túy để sử dụng thì H1 đồng ý. Đến khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, D đến xưởng P1 gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, hiện đã về tỉnh Sóc Trăng sinh sống) mượn điện thoại gọi điện cho S hỏi mua thiếu 500.000đ ma túy, đến thời điểm lấy tiền lương Dắn trả tiền thì S đồng ý. Lúc này, S nói cho D biết chỉ còn một gói ma túy 600.000đ. Nghe vậy D đồng ý mua, nhưng D chưa nói số tiền mua ma túy trên cho H1 biết. Khi D đồng ý, S hẹn D đến đoạn đường nhựa gần xưởng ván lạng K thuộc khu phố G, phường M, thị xã C để lấy ma túy. Qua điện thoại, S hướng dẫn cho D biết ma túy được S bỏ trong hộp kẹo (sing – gum) Cool Air và đặt ở hai cây trụ điện. Theo chỉ dẫn của S, D lấy xe đạp của gia đình cùng H1 đến địa điểm S chỉ điểm để lấy ma túy. Khi đến hai trụ điện gần xưởng Kiều M, D lấy điện thoại Nokia bật đèn soi thì phát hiện hộp (sing – gum) Cool Air như S chỉ dẫn. Biết bên trong có ma túy nên D lấy hộp sing - gum Cool A và đưa cho H1 cất giữ, sau đó H1 đạp xe chở D quay về khu vực lô cao su phía sau xưởng P1 để sử dụng. Khi cả hai quay về đến khu vực thuộc tổ D, khu phố G, phường M, thị xã C thì gặp tổ tuần tra của Công an phường M, thị xã C đang đi tuần tra. Sợ bị lực lượng Công an phát hiện ma túy nên H1 lấy hộp sing - gum Cool Air chứa ma túy đang cất trong túi áo khoác bên trái thả xuống đất thì bị Công an phường M phát hiện bắt quả tang.

Kết quả test ma túy: Vào ngày 08/01/2024, Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1 dương tính với M1 – ma túy đá.

Kết luận giám định số: 64/KL-KTHS ngày 15 tháng 01 năm 2024 của Phòng K1 - Công an tỉnh B xác định: Tinh thể màu trắng (ký hiệu M) có trong 01 gói nylon được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là 0,4881 gam.

Về vật chứng:

Quá trình điều tra thu giữ: 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B bên trong có chứa 0,4526 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 (một) hộp nhựa màu xanh trắng, trên hộp có ghi dòng chữ “Cool Air” là đồ vật cất dấu ma túy; 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu trắng, màn hình cảm ứng, có sim số 0336.467.348 thu giữ của Nguyễn Trung H1 và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh, mặt màn hình bị bể, nứt, M2 – 1010, CODE 059Z1K2 (sim bị khóa không sử dụng được) thu giữ của Lâm Văn D; 01 (một) xe đạp màu trắng, vàng, thân xe có dòng chữ “Nasaki” là phương tiện mà D và H1 sử dụng đi mua ma túy ngày 08/01/2024.

Bản cáo trạng số 36/CT-VKSCT ngày 19/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Lâm Văn D và bị cáo Nguyễn Trung H1 về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên các bị cáo Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; các điều 17, 38, 50; 58Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Lâm Văn D, và Nguyễn Trung H1 mỗi bị cáo mức án từ 12 đến 18 tháng tù;

Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành còn đề nghị xử lý vật chứng và các vấn đề khác của vụ án.

Tại phiên tòa: Các bị cáo D và H1 thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước đã truy tố. Các bị cáo không tranh luận, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

    Ngày 08 tháng 01 năm 2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, Lâm Văn D rủ Nguyễn Trung H1 cùng hùn tiền mua ma túy của đối tượng tên S (chưa rõ nhân thân, lai lịch), với giá 600.000 đồng để mang về sử dụng, khi cả hai đang trên đường quay về thì bị tổ Tuần tra của Công an phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước phát hiện bắt quả tang. Khối lượng ma túy thu giữ khi bắt quả tang là 0,4881 gam, loại Methamphetamine. Hành vi của Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1 thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành truy tố bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng qui định của pháp luật.

  3. Về tính chất, mức độ ảnh hưởng của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý, là nguyên nhân dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, đồng thời gây mất an ninh trật tự địa phương. Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; các bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự; đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải chịu trách nhiệm hình sự.
  4. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
    1. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
    2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải,hoàn cảnh khó khăn nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Riêng bị cáo D là người dân tộc Khơme, không biết chữ, nhận thức về pháp luật có phần hạn chế nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS.
  5. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xét thấy, các bị cáo Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1 là lao động tự do, không có nghề nghiệp, thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

    Trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn, bị cáo D rủ và bị cáo H1 đồng ý góp tiền, cả hai bị cáo cùng đi mua chất ma túy để cất giữ nhằm sử dụng trái phép, nên có vai trò ngang nhau trong vụ án.

    Từ phân tích trên, cần xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

    Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước về tội danh, điều luật áp dụng và hình phạt là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

  6. Về vật chứng:
    • Đối với 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B bên trong có chứa 0,4526 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 (một) hộp nhựa màu xanh trắng, trên hộp có ghi dòng chữ “Cool Air” là đồ vật cất dấu ma túy là đồ vật liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cần tịch thu tiêu hủy.
    • Đối với 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu trắng, màn hình cảm ứng, có sim số 0336.467.348 thu giữ của Nguyễn Trung H1 và 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh, mặt màn hình bị bể, nứt, M2 – 1010, CODE 059Z1K2 (sim bị khóa không sử dụng được) thu giữ của Lâm Văn D là tài sản hợp pháp của các bị cáo và do không liên quan đến hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên trả lại cho các bị cáo.
    • Đối với 01 (một) xe đạp màu trắng, vàng, thân xe có dòng chữ “Nasaki” là phương tiện hợp pháp của bà Vũ Thị H khi các bị cáo D và H1 sử dụng đi mua ma túy ngày 08/01/2024 bà Vũ Thị H hoàn toàn không biết nên trả lại chiếc xe cho bà H.
  7. Các vấn đề khác của vụ án
    • Trong vụ án này có đối tượng tên tên S (chưa rõ nhân thân lai lịch), có hành vi bán ma túy cho các bị cáo D và H1 sử dụng. Tuy nhiên, Cơ quan điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở để xử lý.
    • Đối với thanh niên làm tại xưởng ván P1 (là người cho D mượn điện thoại gọi cho S mua ma túy), trong quá trình điều tra không xác định được nhân thân nên không có cơ sở xử lý.
  8. Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1,2 Điều 51; các điều 17; 38, 50; 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

    Xử phạt bị cáo Lâm Văn D 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Trung H1 01 (một) tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08/01/2024.

  3. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;

    Tịch thu tiêu huỷ 01 (một) phong bì có dấu niêm phong của Phòng K1 Công an tỉnh B bên trong có chứa 0,4526 gam Methamphetamine (mẫu vật hoàn lại sau giám định); 01 (một) hộp nhựa màu xanh trắng, trên hộp có ghi dòng chữ “Cool Air” là đồ vật cất dấu ma túy.

    Trả lại cho bị cáo Lâm Văn D 01 ĐTDĐ hiệu Nokia màu xanh, mặt màn hình bị bể, nứt, M2 – 1010, CODE 059Z1K2 (sim bị khóa không sử dụng được);

    Trả lại cho bị cáo Nguyễn Trung H1 01 (một) ĐTDĐ Iphone màu trắng, màn hình cảm ứng, có sim số 0336.467.348;

    Trả lại cho bà Vũ Thị H 01 (một) xe đạp màu trắng, vàng, thân xe có dòng chữ "Nasaki"

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Các bị cáo Lâm Văn D và Nguyễn Trung H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND thị xã Chơn Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Phước;
  • - CCTHADS thị xã Chơn Thành;
  • - CA thị xã Chơn Thành;
  • - UBND nơi cư trú của bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Đình Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ngày 08/01/2024, D và Nguyễn Trung H1 hùn nhau 600.000đ mua 0,4881g Me thaphetamil cất giữ để sử dụng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger