Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN

VÂN ĐỒN

TỈNH QUẢNG NINH

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 19/11/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đoàn Hồng Thắng.
  • - Các Hội thẩm nhân dân: ông Phạm Văn Bé và ông Nguyễn Thành Định.
  • - Thư ký phiên toà: ông Lê Đức Long - Thư ký, Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: bà Trương Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 31/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Trung D; tên gọi khác: không; giới tính: nam; sinh ngày: 20/12/1974, tại huyện H, tỉnh Thanh Hóa; nơi cư trú: thôn Đ, xã Đ, huyện V, Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: lớp 12/12; con ông Lê Trung T và bà Vũ Thị M; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: ngày 21/02/2001 bị Tòa phúc thẩm, Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, ngày 11/7/2007 chấp hành xong bản án; ngày 30/8/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 36 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, ngày 01/9/2014 chấp hành xong bản án.

Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 25/7/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện V. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 10 ngày 25/7/2024, tại trụ sở Công an xã Đ, thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, trong quá trình Lê Trung D đến đây để bổ sung thông tin vào dữ liệu quốc gia về dân cư thì Công an xã Đ thấy D có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra. Phát hiện trong túi áo bên phải D mặc 01 túi nilon trong suốt, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng ghi là ma túy; 01 túi nilon trong suốt bên trong bám dính chất bột màu trắng hồng nghi là ma túy và 01 viên nén màu đỏ nghi là ma túy; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, nên đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Trung D tại thôn Đ, xã Đ, huyện V, thu giữ tại phòng ngủ của D 01 cân tiểu ly không còn hoạt động; 01 ống thủy tinh uốn cong có bầu tròn, bên trong bầu tròn bám dính chất cặn màu đen; 01 ống thủy tinh uốn cong có bầu tròn; 01 ống hút nhựa màu trắng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Trung D khai: do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 10 giờ ngày 25/7/2024, bị cáo đi đến khu vực gần chợ C, phường C, thành phố C để tìm mua ma túy sử dụng. Tại đây bị cáo gặp và nhờ một người đàn ông chạy xe ôm (không rõ lai lịch, địa chỉ) mua hộ cho bị cáo 500.000 đồng ma túy gồm 01 túi nilon ma túy “đá” và 01 túi nilon bên trong có 01 viên ma túy “ngựa hồng”. Sau khi mua được ma túy, bị cáo về nhà bỏ một phần ma túy đá trong túi nilon ra sử dụng, phần còn lại để trong túi nilon để sử dụng sau. Đến khoảng 16 giờ 10 phút cùng ngày, khi bị cáo đang ở Công an xã Đ, huyện V để bổ sung thông tin vào dữ liệu quốc gia về dân cư thì Công an xã Đ phát hiện bắt quả tang và thu giữ của bị cáo số ma túy trên trong túi áo bên phải của bị cáo đang mặc.

Tại biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang do Công an xã Đ, huyện V lập hồi 16 giờ 15 phút ngày 25/7/2024, tại trụ sở Công an xã Đ, huyện V thể hiện: “Công an xã tiến hành kiểm tra trong túi áo bên phải D mặc: 01 túi nilon trong suốt chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy; 01 túi nilon trong suốt bên trong bám dính chất tinh thể nghi là ma túy và chứa 01 viên nén màu đỏ nghi là ma túy”.

Tại Bản kết luận giám định số: 1159/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K-Công an tỉnh Q kết luận: mẫu vật ký hiệu M1 (Chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilon ), M2 (Chất bột màu trắng hồng trong 01 túi nilon ); M3 (viên ném màu đỏ) gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine ; khối lượng như sau: M1: 0,169gam, M2: 0,034gam, M3: 0,087gam. Tổng khối lượng ma túy 0,29 gam. Hoàn lại mẫu vật sau giám định: M1 0,12gam, M3 0,04gam (tổng là 0,16 gam).

Tại Bản kết luận giám định số: 1195/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận: Tìm thấy chất ma túy loại Methamphetamine trong 01 ống thủy tinh một đầu uốn cong có bầu tròn gửi giám định.

Tại bản Cáo trạng số: 1167/CT-VKSVĐ ngày 23/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Lê Trung D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn tại phiên tòa: căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa và các tài liệu chứng cứ đã được công khai làm rõ tại phiên tòa đủ cơ sở kết luận: vào hồi 16 giờ 10 phút ngày 25/7/2024, tại trụ sở Công an xã Đ, thuộc thôn Đ, huyện V, tỉnh Quảng Ninh, Lê Trung D đã có hành vi cất giấu trái phép 0,29gam chất ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng, thì bị Công an xã Đ, huyện V bắt quả tang.

Đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung D từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam.
  • - Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  • - Về vật chứng: căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì niêm phong số: 1159/KL-KTHS ngày 30/7/2024 (bên trong có 0,16 gam chất ma túy Methamphetamine); 01 chiếc phong bì niêm phong số: 1195/KL-KTHS ngày 05/8/2024 (bên trong có 01 ống thủy tinh uốn cong có bầu tròn); 01 chiếc cân tiểu ly đã hỏng; 01 ống thủy tinh có bầu tròn; 01 ống hút nhựa màu trắng.

Ý kiến của bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo Lê Trung D: tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung bản cáo trạng thể hiện. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong vụ án, phù hợp với vật chứng được thu giữ trong vụ án, kết luận giám định. Như vậy đủ cơ sở kết luận: vào hồi 16 giờ 10 phút ngày 25/7/2024 tại trụ sở Công an xã Đ, huyện V (thôn Đ, xã Đ, huyện V) bị cáo Lê Trung D đã có hành vi cất giấu 0,29 gam ma túy loại Methamphetamine trong túi áo mặc trên người, mục đích để sử dụng. Hành vi cất giấu 0,29 gam ma túy Methamphetamine của bị cáo Lê Trung D đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Đồn truy tố Lê Trung D là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo: hành vi phạm tội của bị cáo Lê Trung D là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương. Bị cáo là người nghiện ma túy và đã hai lần bị Tòa án xử phạt về tội ma túy, nhưng bị cáo vẫn không nhận thấy tác hại của ma túy đối với bản thân, gia đình và xã hội mà vẫn tiếp tục sử dụng. Do đó cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo, cách ly bị cáo khỏi xã hội để tập trung giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: từ khi bị phát hiện cho đến phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt bổ sung: bị cáo là người nghiện ma túy, không có công việc, thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng và tài sản bị tạm giữ của vụ án: cơ quan Công an có thu giữ của bị cáo 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone do D mượn của chị Lê Hải V để liên lạc với bạn bè và gia đình, không liên quan đến việc phạm tội, Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu chị Lê Hải V. Việc trao trả này là phù hợp pháp luật.

Đối với 0,16 gam chất ma túy Methamphetamine (hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 1159/KL-KTHS) là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành; 01 ống thủy tinh uốn cong có bầu tròn (hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số: 1195/KL-KTHS), 01 cân tiểu ly đã hỏng, 01 ống thủy tinh có bầu tròn, 01 ống hút nhựa màu trắng là dụng cụ D dùng để sử dụng trái phép ma túy, không có giá trị. Số vật chứng này cần tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[7] Về án phí: bị cáo Lê Trung D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về quyền kháng cáo: bị cáo Lê Trung D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Trung D 15 (Mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 25/07/2024).

- Về xử lý vật chứng: căn cứ vào các điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy: 01 chiếc phong bì còn nguyên niêm phong có số: 1159/KL-KTHS ngày 30/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong có 0,16 gam chất ma túy Methamphetamine); 01 chiếc phong bì còn nguyên niêm phong có số: 1195/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q (bên trong có 01 ống thủy tinh uốn cong có bầu tròn); 01 chiếc cân tiểu ly đã hỏng; 01 ống thủy tinh có bầu tròn; 01 ống hút nhựa màu trắng. (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số: 05/BB-CCTHADS ngày 24/10/2024 giữa Công an huyện V với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Vân Đồn).

- Về án phí: căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lê Trung D phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: căn cứ khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Lê Trung D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Vân Đồn;
  • - VKSND huyện Vân Đồn;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Nhà Tạm giữ CA huyện Vân Đồn.
  • - CCTHADS huyện Vân Đồn;
  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở tư pháp Quảng Ninh;
  • - Lưu: HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Hồng Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 19/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH về tàng trữ trái phép chất ma túy (criminal case)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN ĐỒN, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vào hồi 16 giờ 10 phút ngày 25/7/2024 tại trụ sở Công an xã Đông Xá, huyện Vân Đồn (thôn Đông Hải, xã Đông Xá, huyện Vân Đồn) bị cáo Lê Trung Dũng đã có hành vi cất giấu 0,29 gam ma túy loại Methamphetamine trong túi áo mặc trên người, mục đích để sử dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger