|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-PT Ngày: 03/7/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Huy Đức;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan;
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Minh Tâm – Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 03 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 45/2024/TLPT-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Phạm Hoài B, Phạm Ngọc T do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Phạm Hoài B, sinh ngày 10 tháng 5 năm 1998 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn C, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Phạm Phi V (chết) và bà Đinh Thị Kim L, sinh năm 1978; Có vợ: Trần Thị Y, sinh năm 1999 và 02 con, lớn sinh năm 2020, nhỏ sinh năm 2023. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 30/3/2020, bị Phòng C1 Công an tỉnh P xử phạt vi phạm hành chính 3.000.000 đồng về hành vi Sử dụng vũ khí trái quy định. Ngày 03/8/2021, bị Công an xã A, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 750.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 22/3/2022, bị Công an xã A, huyện T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 23/11/2023, bị Công an xã A, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 1.500.000 đồng về hành vi Sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 14/12/2023, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 2.500.000 đồng về hành vi Trộm cắp tài sản. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
2. Phạm Ngọc T (tên gọi khác: P), Sinh ngày 08 tháng 4 năm 1993 tại tỉnh Phú Yên; Nơi cư trú: thôn P, xã B, thành phố T, tỉnh Phú Yên; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Mù chữ; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông Phạm Ngọc A, sinh năm 1968 và bà Trần Thị Bửu B1, sinh năm 1968; Có vợ: Trần Thị Kim L1, sinh năm 2001 và 01 con, sinh năm 2017; Tiền án: Không. Tiền sự: Ngày 28/4/2023, bị Ủy ban nhân dân thành phố T xử phạt hành chính 10.400.000 đồng về hành vi vô ý gây thương tích cho người khác và sử dụng loại súng có tính năng, tác dụng tương tự súng săn. Nhân thân: Ngày 17/10/2011, bị Ủy ban nhân dân xã B, thành phố T áp dụng biện pháp giáo dục tại cấp xã thời hạn 06 tháng về hành vi đánh người khác. Ngày 02/6/2016, bị Công an thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 2.250.000 đồng về hành vi tàng trữ cần sa và sử dụng trái phép chất ma túy. Ngày 18/01/2017, bị Toà án nhân dân thành phố Tuy Hòa xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 21/11/2023, trong lúc đi đổ, Phạm Hoài B phát hiện sân nhà anh Đỗ Thiết K ở khu phố N, Phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên có nhiều cây cảnh nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Đến khoảng 00 giờ 05 phút ngày 22/11/2023, B cầm theo 02 sợi dây cước, điều khiển xe mô tô biển số 78C1-415.76 đi đến nhà anh K. Đến nơi, B dựng xe mô tô ngoài đường, trèo tường vào sân lấy 02 sợi dây cước cột 02 cánh cửa nhà lại để nếu bị phát hiện thì trong nhà không mở ra được. B lấy 01 chậu cây cảnh loại Hải C đem ra xe mô tô chở đi. Trên đường đi, B sử dụng điện thoại di động Iphone 6S gọi điện cho Phạm Ngọc T nói mở cửa để B chở cây cảnh đến. Khi gặp T thấy B chở theo 01 chậu cây cảnh nên hỏi thì B nói “Cây này em mới lấy dưới kia! Có ai bán dùm em”, T đồng ý mua với giá 2.000.000 đồng, T đưa cho B 1.000.000 đồng và trừ 1.000.000 đồng tiền B nợ từ trước. Sáng cùng ngày, anh K phát hiện cây cảnh bị mất nên báo cáo Cơ quan Công an thu giữ.
Kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐGTS ngày 06/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố T: một cây Hải Châu có giá trị 4.250.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 47/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Phạm Hoài B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoài B 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 03/5/2024, bị cáo Phạm Hoài B kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 06/5/2024. Bị cáo Phạm Ngọc T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ đã tuyên và giữ nguyên kháng cáo.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoài B - 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T - 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Lời khai nhận tội của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại về thời gian, địa điểm phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 05 phút ngày 22/11/2023, tại Phường I, thành phố T, Phạm Hoài B có hành vi lén lút lấy trộm 01 cây cảnh Hải Châu trị giá 4.250.000 đồng của anh Đỗ Thiết K, rồi đem bán cho Phạm Ngọc T, T biết rõ do B trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với giá 2.000.000 đồng nên cấp sơ thẩm đã truy tố và xét xử bị cáo Phạm Hoài B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS; bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội.
[2] Xét kháng cáo của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội ở địa phương. Các bị cáo có nhân thân xấu nên cần xử phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Phạm Ngọc T cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo có bà nội được tặng huy chương kháng chiến hạng nhì. Tuy nhiên, mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp. Do đó, không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, mà chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
[3] Các bị cáo kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt.
Tuyên bố: bị cáo Phạm Hoài B phạm tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo Phạm Ngọc T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s, h khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Hoài B - 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án;
Áp dụng khoản 1 Điều 323, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Phạm Ngọc T - 09 (Chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Phạm Hoài B, Phạm Ngọc T mỗi bị cáo phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Huy Đức |
Bản án số 37/2024/HS-PT ngày 03/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 37/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Hoài B
