|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 30/10/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: | ông Phạm Vũ Ngọc Châu. |
| Các hội thẩm nhân dân: | ông Lê Chân Thành; |
| ông Phạm Văn Bình. |
- Thư ký phiên tòa: ông Hoàng Quốc Tùng – Thư ký TAND huyện Cam Lộ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ tham gia phiên toà: bà Võ Thị Hương Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 10 năm 2024, Toà án nhân dân huyện Cam Lộ mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024, đối với:
- Bị cáo: Hồ Sỹ Q, sinh ngày 03/01/1996, tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn G, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Sỹ T và bà Bùi Thị Đ; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/7/2024 đến ngày 01/8/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.
- Bị hại: Công ty Cổ phần B; địa chỉ: xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị;
Người đại diệ theo ủy quyền: ông Nguyễn N – Chức vụ: Phó giám đốc sản xuất Công ty Cổ phần B (Văn bản ủy quyền số 01/2024 ngày 25/7/2024); vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Trần Văn L, sinh năm 1986; nơi ĐKNKTT: thôn G, xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An; hiện trú tại: thôn B, xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị; vắngmặt.
+ Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1969; địa chỉ: khu phố D, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:
Ngày 18/07/2024, Hồ Sỹ Q được lệnh điều động của Công ty cổ phần E, cử đến làm việc với nhiệm vụ nâng cấp hệ lạnh TTC tại nhà máy B1 ở xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Sáng ngày 19/07/2024, Hồ Sỹ Q đi làm tại phòng động lực nhà máy B1, trong lúc đang làm việc Q thấy có khoảng 03 đến 04 người thợ điện (chưa rõ lai lịch) vào phòng kéo dây điện và dùng kìm cắt dây điện, loại dây có lõi đồng với nhiều sợi dây đồng bó sát vào nhau, được bọc bên ngoài 02 lớp vỏ (lớp bên trong là vỏ bằng nhựa màu trắng, bên ngoài là vỏ bằng nhựa màu đen), đường kính khoảng 2,5cm. Sau khi cắt dây điện, những người này đặt đoạn dây điện dài khoảng 30m nằm giữa sàn nhà, bỏ lại một cái kìm trên nền nhà của phòng động lực rồi đi về. Vì biết trong phòng làm việc không có camera, dây điện nằm giữa sàn nhà, có sẵn kìm cắt dây điện nên Q nảy sinh ý định muốn lấy trộm dây điện. Khoảng 12 giờ 00 cùng ngày, sau khi ăn cơm trưa, Q biết lúc này mọi người đã về nghỉ trưa, không có ai nên đi bộ một mình vào nhà máy để lấy trộm dây điện. Sau khi vào phòng làm việc, Q dùng kìm cắt đứt được một đoạn dây điện khoảng hơn 13m, rồi kéo đoạn dây này ra sau tủ điện trong phòng để tránh ai đi ngang qua phòng sẽ thấy. Vì dây điện dài nên Q dùng kìm cắt dây điện ra thành 25 đoạn, mỗi đoạn có chiều dài trung bình khoảng 50cm. Sau khi cắt xong, Q giấu sau tủ điện 12 đoạn dây điện, 13 đoạn còn lại Q lấy từng đoạn bỏ một đầu vào phía trong lưng quần jean đang mặc, bao quanh thân người, đầu còn lại hướng lên phía trên ngực và bụng; Q lấy cuộn băng keo giấy có sẵn trong phòng quấn cố định dây điện này quanh thân người để không bị rơi và không lộ ra ngoài. Q dùng áo khoác của mình choàng lên thân người để che giấu, tránh bị phát hiện, rồi đi ra ngoài nhà máy. Khoảng 12 giờ 30, Q đi ra khỏi nhà máy và về phòng trọ của mình, đóng cửa phòng, lấy toàn bộ 13 đoạn dây điện bỏ vào bao tải màu trắng, giấu ở dưới giường ngủ. Vì lúc này cũng đã gần giờ đi làm lại của công ty, sợ có người phát hiện nên Q không vào lại nhà máy để lấy số dây điện còn lại.
Đến khoảng 12 giờ 00 ngày 20/7/2024, Q đi bộ một mình vào lại trong nhà máy B1 để lấy số dây điện đã giấu trước, Q lấy từng đoạn dây điện giấu vào người với cách thức tương tự như trưa 19/7/2024. Sau đó, bị cáo đi bộ về phòng trọ, bỏ số dây điện này vào bao tải cùng với số dây điện trộm trước đó, rồi giấu dưới giường ngủ. Đến chiều, bị cáo vẫn đi làm ở nhà máy B2 và có nhặt được 01 đoạn dao rọc giấy (đã qua sử dụng) ở khu vực bãi rác của nhà máy Đ1 về. Đến tối cùng ngày, Q lấy toàn bộ dây điện ra, đóng cửa phòng, sử dụng dao cắt giấy để cắt dọc lần lượt dọc theo ống vỏ nhựa màu đen và trắng để bóc phần lõi đồng ra. Sau đó, Q lấy bao nilon màu đỏ bỏ hết số vỏ dây điện đã cắt vào trong rồi vứt ra vườn tràm phía sau, cách nhà trọ khoảng gần 10m. Lõi đồng được Q bỏ vào bao tải màu trắng, giấu dưới giường ngủ. Khoảng 19 giờ 00 ngày 22/7/2024, sau khi đi làm về, Q có ý định mang số lõi đồng dây điện đi bán, nhìn xung quanh phòng trọ thấy xe mô tô của anh Trần Văn L, sinh năm 1989 ở Thôn G, Q, TX H, Nghệ An bỏ ở trước sân nhà trọ (loại xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu xanh, biển số 73N1-6176) liền qua phòng trọ anh L để mượn xe chở dây điện đi bán nhưng không có ai. Vì phòng anh L mở cửa nên Q thấy trong phòng có một chìa khóa xe mô tô (Q biết đây là chìa khóa xe của anh L vì khi mới vào làm Q có mượn xe anh L đi mua đồ sinh hoạt một lần) nên lấy chìa khóa xe để đi. Q vào phòng trọ xách bao tải chứa lõi dây điện ra, bỏ trước yếm xe rồi dùng 02 chân kẹp hờ phía trước, chở đi bán. Q đi đến Q hướng lên xã C, C, đồng thời quan sát hai bên đường xem có quán mua phế liệu nào không. Q đi được khoảng 2 km mà vẫn không thấy quán nên quay đầu xe đi thẳng theo Q hướng về thành phố Đ thì thấy bên phải đường (hướng C- Đ) có một quán thu mua phế liệu (không có bảng hiệu). Q dừng xe, đi vào và gặp bà Nguyễn Thị T1 sinh năm 1969, trú ở Khu phố D, Phường D, thành phố Đ, Quảng Trị (là chủ quán), rồi Q tự giới thiệu làm thợ điện, có dư lõi đồng dây điện nên muốn bán. Bà T1 lấy một cái cân loại 30kg ra cân tổng khối lượng là 27,7kg. Q và bà T1 thỏa thuận, thống nhất giá 01kg là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) nên bà T1 thanh toán tiền mặt cho Q với số tiền là 5.540.000đ (năm triệu năm trăm bốn mươi nghìn đồng), gồm nhiều tờ tiền loại mệnh giá 500.000 đồng; 100.000 đồng và 50.000 đồng. Sau khi lấy tiền, Q lái xe mô tô đi về phòng trọ, không thấy anh L ở phòng nên bỏ xe và chìa khóa xe mô tô tại chỗ cũ cho anh L rồi đi ngủ.
- Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 14/KL- ĐGTS ngày 01/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện C, kết luận:
Trị giá dây điện loại CXV 240 KBI Cosmolink (HQ) Fr/XLPE, D=2,5cm; P=31,61Kg; L= 13,35m tại thời điểm bị mất trộm ngày 19/7/2024 là: 7.476.000đ (bảy triệu, bốn trăm bảy mươi sáu ngàn đồng).
- Tại bản Kết luận giám định số: 899/KL- KTHS ngày 07/8/2024 của Phòng K Công an tỉnh Q kết luận:
05 (năm) tờ tiền in hình tiền Việt Nam mệnh giá 500.000đ, có số Seri lần lượt là: SX21600584, AC16019281, SR11371920, BT16815216, RE21591863 gửi đến giám định là tiền thật.
08 (tám) tờ tiền in hình tiền Việt Nam mệnh giá 200.000đ, có số Seri lần lượt là: VN14723293, DS18890251, RL13119225, PO21389644, TC16062070, CK20452044, NZ20714933, SH19835577 gửi đến giám định là tiền thật.
06 (sáu) tờ tiền in hình tiền Việt Nam mệnh giá 100.000đ, có số Seri lần lượt là: KL16588534, BK17341553, IQ21276873, SY18912329, KB17700613, PI21246144 gửi đến giám định là tiền thật.
02 (hai) tờ tiền in hình tiền Việt Nam mệnh giá 50.000đ, có số Seri lần lượt là: UA22360037, XX21661245 gửi đến giám định là tiền thật.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSCL ngày 02/10/2024 của VKSND huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Hồ Sỹ Q về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị:
- Về trách nhiệm hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Hồ Sỹ Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Hồ Sỹ Q từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày 26/7/2024 đến ngày 01/8/2024.
- Về trách nhiệm dân sự: bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
- Về xử lý vật chứng: áp dụng khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:
- 3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- - Một thùng giấy kích thước (37x25x19)cm, trên bề mặt thùng giấy có dòng chữ “NƯỚC TĂNG LỰC number”, ký hiệu AQ, bên trong có chứa: 01 (một) quần jean dài, màu xanh dương; 01 (một) quần vải dài, màu xanh; 01 (một) áo nỉ dài tay có mủ, màu xám; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, màu xám; 01 (một) áo dài tay dạng nút gài phía trước, màu xanh; 01 (một) mũ vải có vành, màu nâu và 01 (một) mũ lưỡi trai, màu xanh.
- - Một thùng giấy kích thước (45x37x33)cm, trên bề mặt thùng giấy có dòng chữ “CANON LASER SHOT LBP 2900”, ký hiệu TV, bên trong có chứa:
- + 01 (một) dao cắt giấy, có lưỡi bằng kim loại dài 05cm, rộng 02cm; cán dao bằng nhựa màu vàng.
- + 01 (một) bao nilon màu đỏ, có kích thước (50x35)cm.
- + 25 ống nhựa màu đen và 25 ống nhựa màu trắng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024, gữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ.
- 3.2. Tịch thu sung công: 5,5 kg nhiều sợi kim loại màu vàng đồng.
- 3.3. Trả cho bị cáo Hồ Sỹ Q số tiền 4.800.000 đồng.
- 3.1. Tịch thu tiêu hủy:
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để bị cáo có điều kiện chăm sóc bố mẹ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Quảng Trị, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Nội dung vụ án và xác định tội danh: lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án, thể hiện: ngày 19/7/2024, Hồ Sỹ Q được điều đến Công ty Cổ phần B để nâng cấp hệ lạnh TTC tại phòng động lực nhà máy B1 ở xã C, huyện C, tỉnh Quảng Trị. Khi đến làm, Q thấy các công nhân kéo dây điện và dùng kìm cắt dây điện; sau khi cắt xong những người này để cuộn dây điện bên trong có lõi đồng và kềm cắt dây điện trên sàn nhà. Vì biết trong phòng không có Camera nên Q đã nãy sinh ý định cắt dây điện lấy lõi đồng bán kiếm tiền tiêu xài cá nhân. Khoảng 12 giờ cùng ngày, sau khi ăn cơm trưa, biết mọi người đã về nghỉ không có ai nên Q đã đi bộ vào lại nhà máy L1 dùng kìm có sẵn để cắt 13 mét dây điện; sau đó, Q đã cắt ngắn thành 25 đoạn, mỗi đoạn khoảng 50cm. Cắt xong, Q giấu sau tủ điện 12 đoạn dây điện, 13 đoạn đoạn còn lại Q đưa về phòng trọ cất giấu dưới giường ngủ. Khoảng 12 giờ ngày 20/7/2024, Q vào lại nhà máy để lấy 12 đoạn dây điện còn lại. Sau khi đưa về phòng trọ Q đã dùng dao cắt giấy để tách bóc các lõi đồng ra để đem bán. Khoảng 19 giờ ngày 22/7/2024, Q đã lấy xe mô tô BKS 73N1-6176 của anh Trần Văn L để ở dãy phòng trọ đưa đến điểm thu mua phế liệu của bà Nguyễn Thị T1 ở khu phố D, Phường D, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị bán với khối lượng 27,7kg dây đồng được số tiền 5.540.000 đồng và quay về phòng trọ. Kết luận định giá 13 mét dây điện loại CXV 240 KBI Cosmolink (HQ) Fr/XLPE có trị giá 7.476.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cam Lộ đã truy tố bị cáo Hồ Sỹ Q về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của BLHS là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo:
Bị cáo Hồ Sỹ Q là người có đầy đủ năng lực và nhận thức pháp luật nhưng do thiếu ý thức rèn luyện, muốn có tiền để tiêu xài cá nhân mà không phải bằng chính công sức lao động chính đáng của mình nên đã dẫn bị cáo đi vào con đường phạm tội. Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà còn gây mất trật tự, trị an trên địa bàn. Vì vậy, cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng: không có.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và bị cáo là lao động chính trong gia đình, có điều kiện, hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s, b, i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ những phân tích trên thấy rằng: bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bị cáo thực hiện hành vi phạm tội mang tính bột phát, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên xem xét áp dụng Điều 36 của Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ tác dụng răng đe, giáo dục và phòng ngừa chung; bị cáo phải lấy đây làm bài học để phấn đấu, rèn luyện trở thành người công dân tốt.
Bị cáo Q là lao động chính trong gia đình, có điều kiện hoàn cảnh khó khăn, bố mẹ già yếu, bệnh tật; sau khi thực hiện hành vi hạm tội bị cáo đã bị Công ty cắt hợp đồng, chưa có việc làm nên không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Đối với hành vi của bà Nguyễn Thị T1 là người mua 27,7 kg dây đồng do bị cáo Q bán nhưng bà T1 không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự là có căn cứ.
Bị cáo tự ý sử dụng xe mô tô BKS 73N1-6176 của bà Phạm Thị T2 giao cho anh Trần Văn L quản lý, sử dụng để vận chuyển số dây điện đồng đi bán nhưng anh L không biết nên không xem xét trách nhiệm hình sự là đúng quy định.
[5] Về trách nhiệm dân sự: bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền 7.476.000 đồng theo yêu cầu của bị hại và đã hoàn trả cho bà Nguyễn Thị T1 số 1.100.000 đồng tương đương với số dây đồng còn lại bị thu giữ; bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
[6] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã thu giữ một số vật chứng như mô tả và đề nghị xử lý của Viện kiểm sát. Hội đồng xét xử thống nhất hướng xử lý vật chứng theo đề nghị của Viện kiểm sát, cụ thể:
- - Đối với 01 (một) quần jean dài, màu xanh dương; 01 (một) quần vải dài, màu xanh; 01 (một) áo nỉ dài tay có mủ, màu xám; 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, màu xám; 01 (một) áo dài tay dạng nút gài phía trước, màu xanh; 01 (một) mũ vải có vành, màu nâu và 01 (một) mũ lưỡi trai, màu xanh thu giữ của bị cáo Hồ Sỹ Q, bị cáo không có nhu cầu nhận lại và không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với (một) dao cắt giấy, có lưỡi bằng kim loại dài 05cm, rộng 02cm; cán dao bằng nhựa màu vàng là công phạm tội; 01 (một) bao nilon màu đỏ, có kích thước (50x35)cm; 25 ống nhựa màu đen và 25 ống nhựa màu trắng được bị cắt bỏ để lấy lõi đồng không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- - Đối với 5,5 kg sợ kim loại màu vàng đồng bà Nguyễn Thị T1 tự nguyện giao nộp lại cần tịch thu sung công.
- - Đối với số tiền 4.800.000 đồng, bị cáo Q tự nguyện nộp lại sau khi bán bán các lõi đồng tiêu xài cá nhân còn lại; tuy nhiên, quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện bồi thường và hoàn lại đầy đủ toàn bộ số tiền cho bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Vì vậy, cần trả lại cho bị cáo số tiền trên.
- - Xe mô tô 73N1-6176, bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, chủ sở hữu không biết nên đã trả lại cho chủ sở hữu đúng quy định.
- - Đối với 22,2kg lõi dây điện bằng đồng, sau khi mua của Hồ Sỹ Q bà Nguyễn Thị T1 đã bán cho một người khác không rõ địa chỉ, không thu giữ được nên không xem xét.
[7] Về án phí: bị cáo Hồ Sỹ Q phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
[8] Áp dụng biện pháp ngăn chặn: bị cáo bị Toà án xử phạt cải tạo không giam giữ nên hủy bỏ Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 48/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 03/10/2024 của Toà án nhân dân huyện Cam Lộ đối với bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 36 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự và khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, xử:
- Về tội danh: tuyên bố bị cáo Hồ Sỹ Q phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: xử phạt bị cáo Hồ Sỹ Q 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ, thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an thị xã H, tỉnh Nghệ An nhận được Quyết định thi hành án nhưng được khấu trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 26/07/2024 đến ngày 01/8/2024 là 07 ngày (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ), thời hạn còn phải chấp hành 08 tháng 09 ngày.
Giao bị cáo Hồ Sỹ Q cho Ủy ban nhân dân xã Q, thị xã H, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
- 3.1. Tịch thu tiêu hủy, gồm:
- * Một thùng giấy kích thước (37x25x19)cm, trên bề mặt thùng giấy có dòng chữ “NƯỚC TĂNG LỰC number”, ký hiệu AQ, bên trong có chứa:
- - 01 (một) quần jean dài, màu xanh dương, có kích thước (96x43)cm, ống quần rộng 18cm, quần đã qua sử dụng.
- - 01 (một) quần vải dài, màu xanh, ống quần có bo chun, lưng chun, có kích thước (92x45)cm, ống quần rộng 19cm, quần đã qua sử dụng.
- - 01 (một) áo nỉ dài tay có mủ, màu xám, mặt trước có dòng chữ UNDER ARMOUR, có kích thước (96x50)cm, tay áo dài 58cm, áo đã qua sử dụng.
- - 01 (một) áo thun ngắn tay cổ tròn, màu xám, có kích thước (62x57)cm, tay áo dài 15cm, áo đã qua sử dụng.
- - 01 (một) áo dài tay dạng nút gài phía trước, màu xanh, có kích thước (70x52)cm, tay áo dài 54cm, áo đã qua sử dụng.
- - 01 (một) mũ vải có vành, màu nâu, có đường kính 40cm, có quai đeo màu đen, mũ đã qua sử dụng.
- - 01 (một) mũ lưỡi trai, màu xanh, bề mặt phía trước có chữ TikTok, có kích thước (25x15)cm, mũ đã qua sử dụng.
- * Một thùng giấy kích thước (45x37x33)cm, trên bề mặt thùng giấy có dòng chữ “CANON LASER SHOT LBP 2900”, ký hiệu TV, bên trong có chứa:
- - 01 (một) dao cắt giấy, có lưỡi bằng kim loại dài 05cm, rộng 02cm; cán dao bằng nhựa màu vàng dài 10cm, rộng 2,5cm, trên bề mặt cán dao có dòng chữ “10 PCS”, dao đã qua sử dụng.
- - 01 (một) bao nilon màu đỏ, có kích thước (50x35)cm, đã qua sử dụng.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 53cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 53cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm, trên thân ông có ký hiệu: “0=6/1KVIEC60502-1”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm, trên thân ông có ký hiệu: “0=6/1KVIEC60502-1”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 50cm, trên thân ông có ký hiệu: “FDBYR=0KOREA 2024”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 50cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 50cm, trên thân ông có ký hiệu: “0=6/1KVIEC60502-1*CU/XLPE/FR-PVC1Cx240 SQMM”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 50cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 61cm, trên thân ông có ký hiệu: “0=6/1KVIEC60502-1*CU/XLPE/FR-PVC1Cx240 SQMM”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 61cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 62cm, trên thân ống có ký hiệu: “KBICOSMOLINKVINA CABLEFOWERFD".
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 62cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 53cm, trên bề mặt thân ống có các ký hiệu bị trầy xước, không rõ hình.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 53cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 58cm, trên thân ống có ký hiệu: “S3B202240611”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 58cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 62cm, trên thân ống có ký hiệu: “S3B20240611”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 62cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 57cm, trên thân ống có ký hiệu: “0=6/1KV”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 57cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 46cm, trên thân ống có ký hiệu: “0=6/1KVIEC60502-1*CU/XLPE/FR-PVC1Cx240 SQMM*KBICOSMOLINKVINA”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 46cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm, trên thân ống có ký hiệu: “0336M”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 56cm, trên thân ống có ký hiệu: “KOREA 2024”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 56cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 50cm, trên thân ống có ký hiệu: “0=6/1KVIEC60502-1*CU/XLPE/FR-PVC1Cx240 SQMM”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 50cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 58cm, trên thân ống có ký hiệu: “0333M”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 58cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 51cm, trên thân ống có ký hiệu: “S3620240611”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 51cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 37cm, trên thân ống có ký hiệu: “0330M”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 37cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm, trên thân ống có ký hiệu: “S3620240611”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 55cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 52cm, các ký hiệu trên thân ống bị trầy xước, không rõ hình.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 52cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 46cm, trên thân ống có ký hiệu: “0327M”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 46cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 60cm, trên thân ống có ký hiệu: “0339M”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 60cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 47cm, các ký hiệu trên thân ống bị trầy xước, không rõ hình.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 47cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 43cm, trên thân ống có ký hiệu: “2024”.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 43cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa đen, đường kính 2,5cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 56cm.
- - 01 (một) đoạn ống nhựa trắng, đường kính 2,2cm, có đường cắt dọc trên thân ống, có chiều dài 56cm.
- 3.2. Tịch thu sung công: nhiều sợi kim loại màu vàng đồng, trong đó: Các sợi đơn có đường kính 03mm, chiều dài từng sợi khác nhau, đã được uốn công. Đo ngẫu nhiên chiều dài một sợi có chiều dài 63cm; có 04 sợi gồm nhiều sợi đơn có đặc điểm như trên kết lại, đường kính mỗi sợi 1,5cm, đã được uốn công, không duỗi thẳng được. Toàn bộ có khối lượng 5,5kg (năm phẩy năm kilôgam).
- 3.3. Trả lại tài sản: trả cho bị cáo Hồ Sỹ Q số tiền 4.800.000 đồng (bốn triệu tám trăm nghìn đồng) được niêm phong trong phong bì bên ngoài có chữ phòng PC09 - Công an tỉnh Q, tại vị trí mép dán có chử ký của người tham gia niêm phong và hình dấu của phòng K - Công an tỉnh Q.
Hiện các vật chứng trên có tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2024, giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cam Lộ.
- Về án phí: bị cáo Hồ Sỹ Q phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Vũ Ngọc Châu |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAM LỘ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồ Sỹ Q phạm tội Trộm cắp tài sản
