|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC TỈNH TIỀN GIANG Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 29-11-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do -Hạnh Phúc - |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC – TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phùng Văn Luân
- Ông Nguyễn Tấn Phúc
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hạnh Liêm – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Châu – Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/HSST ngày 28 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn Q, sinh năm: 1990, tại tỉnh Tiền Giang. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Số CCCD : [...]. Nơi cấp Cục Q2 về trật tự xã hội cấp ngày 22/11/2021. Nơi cư trú: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không.Nghề nghiệp: Làm ruộng.Trình độ học vấn: 12/12.-Cha: Trần Văn H, sinh năm 1976, Trú tại: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, nghề nghiệp: Làm ruộng. Mẹ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1975, Trú tại: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, nghề nghiệp: Làm ruộng. Anh chị em ruột: có 02 người, bị cáo là con thứ ba trong gia đình. Vợ: Lê Thị Cẩm L, sinh năm 1989, Trú tại: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang, nghề nghiệp: Nội trợ. Con: có 03 người, lớn nhất sinh năm 2014 và nhỏ nhất sinh năm 2023.
- Tiền án, tiền sự: Không.
- Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra.
Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Lê Thành Đ- Chi nhánh Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư B2 (có mặt)
(Bị cáo có mặt tại phiên tòa)
- Người bị hại: Anh Nguyễn Phương B, sinh năm: 1978 (có mặt).
Trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- Người làm chứng:
- + Anh: Võ Văn C, sinh năm: 1987 (vắng mặt).
- Trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- + Anh Trương Quốc B1, sinh năm: 1985 (có mặt).
- Trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
- + Anh Đỗ Văn C1, sinh năm: 1978 (có mặt).
- Trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 21/10/2023, sau khi đã có uống rượu, bia anh Nguyễn Phương B, sinh năm 1978, Trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang điều khiển xe mô tô đến ghé quán nước giải khát do anh Đỗ Văn C1, sinh năm 1978 tại ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang làm chủ để uống nước.
Tại đây, anh B uống trà đá và ngồi cùng dãy bàn với anh Võ Văn C, sinh năm 1987, Trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang và Trương Quốc B1, sinh năm 1985, T tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang do đều là những người quen biết ở xóm. Khoảng 30 phút sau, bị cáo Trần Văn Q sau khi đã có sử dụng rượu, bia điều khiển xe mô tô đến quán của anh C1 do có hẹn trước với anh Trương Quốc B1.
Khi vào quán thì bị cáo Q ngồi bên tay trái của anh B1, còn anh B ngồi bên tay phải của anh B1. Cả 03 ngồi chung dãy bàn cách nhau khoảng 01 – 02 mét và đều quay mặt về hướng kênh, lưng quay ra hướng lộ nhựa. Anh C thì ngồi trên ghế đá, đoạn giữa và đối diện với anh B1. Tất cả đều được anh C1 sử dụng ly thuỷ tinh trong quán bán cà phê, trà đá cho khách sử dụng như thường ngày.
Trong lúc uống cà phê thì bị cáo Q hỏi anh B “Thấy anh quen quen”, anh B trả lời “Tao B nè, anh B bơm bùn nè”. Sau khi cự cãi nhau và tức giận việc võ lãi của bị cáo Q vướng dây cáp xà lan của anh B vào ngày 10/3/2023 nhưng không được anh B xin lỗi, bồi thường nên bị cáo Q đứng dậy, tay trái cầm ly thuỷ tinh, loại ly có quai (Ly cà phê mà bị cáo Q đang uống) đánh 01 cái vào vùng mặt của anh B làm bể ly và gây thương tích cho anh B. Anh B xô bị cáo Q té ngã trên bội đựng dưa hấu tại quán.
Bị cáo Q khai lúc này anh B cầm ly thuỷ tinh của anh B đang uống đánh lại bị cáo Q vào vùng đầu, vùng lỗ tai phải của bị cáo Q gây thương tích. Cả hai tiếp tục ôm vật đánh nhau nên được mọi người can ngăn. Sau đó, bị cáo Q lên xe về trước và đến Trạm y tế xã T khâu vết thương ở lỗ tai phải. Bị cáo Q nhập viện điều trị tại Bệnh viện Đ1 từ ngày 22/10/2023 đến ngày 25/10/2023 thì xuất viện với vết thương vùng má phải và sau tai phải khoảng 06 cm. Còn anh B được người nhà đưa đến cấp cứu tại Trung tâm y tế huyện T điều trị. Vụ việc được trình báo công an xã T đến giải quyết.
Vật chứng của vụ án: Không thu giữ được, do sau khi xảy ra vụ án, anh Đỗ Văn C1 đã tiến hành quét dọn bỏ sọt rác. Cơ quan điều tra tiến hành thu giữ ly thuỷ tinh là mẫu vật tương tự gồm:
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, cao 11,5 cm, đường kính miệng 7,2 cm, đường kính đáy 6,3 cm, cân nặng 320 gam, loại ly có quai cầm, còn nguyên vẹn.
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, loại không có quai, cao 8,8 cm, đường kính miệng 7,8 cm, đường kính đáy 6,6 cm, cân nặng 220 gam, trên ly có chữ Hà P – Hạnh P1 và hình vẽ hoa văn, còn nguyên vẹn. Đây là các ly do anh Đỗ Văn C1 giao nộp cho Cơ quan điều tra.
- Tiền Việt Nam: 5.000.000 đồng do bị cáo Trần Văn Q tự nguyện giao nộp để bồi thường thiệt hại cho bị hại anh Nguyễn Phương B.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 427-2023/KLTTCT-TTPY ngày 05/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Nguyễn Phương B là 16% (Mười sáu phần trăm). Thương tích do vật tầy có cạnh sắc gây nên.
Tại bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 443-2023/KLTTCT-TTPY ngày 19/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh T kết luận tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trần Văn Q là 05% (Năm phần trăm). Thương tích do vật tầy có cạnh sắc gây nên.
Về xử lý vật chứng:
Viện kiểm sát nhân dân ra quyết định chuyển đến Chi cục thi hành án Dân sự huyện Tân Phước quản lý 02 ly thuỷ tinh có đặc điểm như đã nêu trên và số tiền 5.000.000đồng chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Trần Văn Q đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000đồng và trong quá trình xét xử bị cáo Trần Văn Q đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, bị hại Nguyễn Phương B yêu cầu Toà án nhân dân huyện Tân Phước xem xét giải quyết.
Tại Cáo trạng số 31/CT-VKSTP ngày 25/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang, truy tố bị cáo Trần Văn Q về tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng đối vối bị cáo Trần Văn Q, căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân của bị cáo đề nghị Tòa án căn cứ Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điều 38; Điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Văn Q từ 01 năm tù đến 01 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
Về vật chứng vụ án: đề nghị căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị tịch thu và tiêu hủy
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, cao 11,5 cm, đường kính miệng 7,2 cm, đường kính đáy 6,3 cm, cân nặng 320 gam, loại ly có quai cầm, còn nguyên vẹn.
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, loại không có quai, cao 8,8 cm, đường kính miệng 7,8 cm, đường kính đáy 6,6 cm, cân nặng 220 gam, trên ly có chữ Hà P – Hạnh P1 và hình vẽ hoa văn, còn nguyên vẹn.
Về trách nhiệm dân sự : công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Văn Q và anh Nguyễn Phương B tại phiên tòa :bị cáo Trần Văn Q tự bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động cho anh Nguyễn Phương B tổng cộng số tiền 10.000.000đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
Về án phí:bị cáo phải chịu hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa,Tòa án nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của họ. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đều thực hiện đúng quy định pháp luật.
[2] Về hành vi, tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của bị cáo:Tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Q khai nhận về hành vi bị cáo thực hiện đúng với Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa : Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 21/10/2023, tại quán nước giải khát của anh Đỗ Văn C1 thuộc ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang. Xuất phát từ mâu thuẫn trước đó nên bị cáo Trần Văn Q đã có hành vi dùng ly thuỷ tinh được xác định là hung khí nguy hiểm đánh bị hại anh Nguyễn Phương B gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tật là 16% (Mười sáu phần trăm). Do đó, đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điểm đ Khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến sức khỏe của người bị hại, được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự và an toàn tại địa phương nên cần xử phạt bị cáo hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân người phạm tội:bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Xét thấy, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Trần Văn Q có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả chi phí điều trị, tiền công lao động cho người bị hại anh Nguyễn Phương B, tại phiên tòa bị hại anh Nguyễn Phương B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, bản thân bị cáo có thành tích hoàn thành tốt nhiệm vụ trong công tác được Ủy ban nhân dân huyện T tắng giấy khen và gia đình có công với cách mạng có ông nội Trần Văn H2 đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Chủ tịch nước tặng thưởng huân chương hạng ba; bà nội Trần Thị T1 đã có công góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước được Thủ tướng Chính phủ tặng bằng khen. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại Điểm b, s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Tòa án xử phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt, có ích cho xã hội và răn đe giáo dục phòng ngừa chung.
[4] Về xử lý vật chứng đối với:
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, cao 11,5 cm, đường kính miệng 7,2 cm, đường kính đáy 6,3 cm, cân nặng 320 gam, loại ly có quai cầm, còn nguyên vẹn.
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, loại không có quai, cao 8,8 cm, đường kính miệng 7,8 cm, đường kính đáy 6,6 cm, cân nặng 220 gam, trên ly có chữ Hà P – Hạnh P1 và hình vẽ hoa văn, còn nguyên vẹn
Bị cáo dùng làm công cụ phạm tội cần tịch thu và tiêu hủy.
[5] Về trách nhiệm dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Văn Q và anh Nguyễn Phương B tại phiên tòa : bị cáo Trần Văn Q tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động cho anh Nguyễn Phương B tổng cộng số tiền 10.000.000đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo là có căn cứ; Tòa án xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[7] Người bào chữa cho bị cáo Trần Văn Q trình bày lời bào chữa: trong quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo Trần Văn Q có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi, bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả chi phí điều trị, tiền công lao động cho người bị hại anh Nguyễn Phương B và xin lỗi anh B, bị hại anh Nguyễn Phương B xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo, bản thân bị cáo có thành tích xuất sắc trong sản xuất và gia đình có công với cách mạng. Bị cáo nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo quy định tại Điểm b, s, v Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đề nghị Tòa án căn cứ Nghị quyết Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tốc cao xử phạt tù cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ giáo dục bị cáo thành công dân tốt, đề nghị này là phù hợp pháp luật và phù hợp với nhận định trên,Tòa án chấp nhận
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn Q phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1/ Về hình phạt:
Áp dụng Điểm đ Khoản 2 Điều 134; Điều 65; điểm b,s,v khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Văn Q 02(hai) năm tù cho hưởng án treo.Thời gian thử thách là 04 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Văn Q cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Gia đình bị cáo Trần Văn Q có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tiền Giang trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo Trần Văn Q cố ý vi phạm nghĩa vụ từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
2/ Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sư; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Tịch thu và tiêu hủy:
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, cao 11,5 cm, đường kính miệng 7,2 cm, đường kính đáy 6,3 cm, cân nặng 320 gam, loại ly có quai cầm, còn nguyên vẹn.
- 01 cái ly thuỷ tinh trong suốt, loại không có quai, cao 8,8 cm, đường kính miệng 7,8 cm, đường kính đáy 6,6 cm, cân nặng 220 gam, trên ly có chữ Hà P – Hạnh P1 và hình vẽ hoa văn, còn nguyên vẹn
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 26/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang).
3/ Về trách nhiệm dân sự công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo Trần Văn Q và anh Nguyễn Phương B tại phiên tòa: bị cáo Trần Văn Q tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả chi phí điều trị thương tích, tiền công lao động cho anh Nguyễn Phương B tổng cộng số tiền 10.000.000đồng, khi án có hiệu lực pháp luật.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng ngày 25/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang và theo Lệnh thanh toán đến ngày 14/11/2024 của Kho bạc Nhà nước huyện T nội dung chuyển tiền khắc phục hậu quả của Tràn Văn Q1 đối với số tiền 5.000.000đồng và biên lai thu mang tên Trần Văn Q số tiền 5.000.000đồng biên lai số 0001047 ngày 26/11/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tân Phước, tỉnh Tiền Giang)
4/ Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/6/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Trần Văn Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5/ Bị cáo,có mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Huỳnh Trường |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHƯỚC, TỈNH TIỀN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
