Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG TRỊ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Việt Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thảo Nguyên;

Bà Trần Thị Minh Lệ.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Minh Nguyệt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 32/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2024, đối với:

Bị cáo Nguyễn Thị M, tên gọi khác: Không có, sinh ngày 05/12/1991 tại tỉnh Quảng Trị; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H, sinh năm 1961 và bà Phan Thị T, sinh năm 1964; chồng: Văn Vĩnh K, sinh năm 1987; có 02 con, lớn sinh năm 2016, nhỏ sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cứ trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa tháng 02 năm 2023, Nguyễn Thị M muốn hành nghề hướng dẫn viên du lịch quốc tế, nhưng do không đủ điều kiện để cấp thẻ hướng dẫn viên nên M lên mạng xã hội, cung cấp thông tin và đặt mua 01 Chứng chỉ ngoại ngữ Tiếng Anh bậc 5 giả mang tên mình, do Trường Đại học N cấp ngày 26/8/2022, số hiệu DND.F0004632, số vào sổ cấp chứng chỉ: DDF.F.00311.22.

Sau khi nhận được Chứng chỉ ngoại ngữ nêu trên, ngày 15/3/2023, M đến Ủy ban nhân dân xã H, huyện H chứng thực thành 03 bản. Sau đó, M sử dụng 01 bản đưa vào hồ sơ xin cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế. Sau khi tiếp nhận hồ sơ, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Q xác minh tại Trường Đại học N. Trong quá trình xác minh, do hết thời hạn cấp thẻ nên Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Trị ban hành Quyết định số 76/QĐ-SVHTTDL-QLDL ngày 22/3/2023 về việc cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế cho Nguyễn Thị M. Ngày 23/3/2023 Trường Đại học N phúc đáp Công văn số 367/SVHTTDL-QLDL ngày 20/3/2023 của Sở V xác nhận không tìm thấy thông tin chứng chỉ ngoại ngữ nói trên, nên ngày 29/3/2023, Sở V đã ban hành Quyết định số 84/QĐ-SVHTTDL về việc thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch của Nguyễn Thị M.

Tại bản kết luận giám định số: 1143/KL-KTHS ngày 21/11/20233 của Phòng K Công an tỉnh Q xác định:

Chữ ký mang tên Trần Hữu P trên Chứng chỉ ngoại ngữ Tiếng Anh bậc 5 với chữ ký mang tên Trần Hữu P do Trường Đại học N cung cấp không cùng một người ký ra; Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ * ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG” trên Chứng chỉ ngoại ngữ Tiếng Anh bậc 5 với hình dấu tròn màu đỏ có cùng nội dung do Trường Đại học N cung cấp không đồng nhất. Hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI NGỮ * ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG” trên Chứng chỉ ngoại ngữ Tiếng Anh bậc 5 được in bằng phương pháp in phun màu.

Cáo trạng số 32/CT-VKS-P2 ngày 16/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo Nguyễn Thị M và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M: từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng.

Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định.

Lời nói sau cùng của bị cáo Nguyễn Thị M: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn, hối hận về việc mình đã làm, chịu trách nhiệm trước pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện, hoàn cảnh của bị cáo để xử phạt bị cáo mức án phù hợp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đều hợp pháp.

  2. Xét lời khai nhận hành vi của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định:

    Tháng 02/2023, Nguyễn Thị M thông qua mạng xã hội đặt mua 01 Chứng chỉ Tiếng Anh bậc 5 ghi Trường Đại học N, cấp ngày 26/8/2022, số hiệu DND.F.0001632, số vào sổ cấp chứng chỉ: DDF.F.00311.22 mang tên Nguyễn Thị M. Sau đó, M sử dụng 01 bản sao đưa vào hồ sơ đề nghị Sở V cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế nên đã vi phạm khoản 2 Điều 59 Luật Du lịch; điểm d khoản 1 Điều 13 Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL ngày 15/12/2017 của Bộ V; Điểm d mục 10 Điều 5a của Thông tư số 13/2019/TT-BVHTTDL ngày 25/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 06/2017/TT-BVHTTDL. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Trị đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị M về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

  3. Xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về tài liệu của cơ quan, tổ chức, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

    Về tình tiết tăng nặng: Không có.

    Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Ngoài ra, bị cáo là lao động chính trong gia đình, bố chồng là thương binh loại A, mất sức lao động; mẹ đẻ mắc bệnh ung thư, gia đình mẹ đẻ là hộ nghèo; chồng việc làm không ổn định lại ở xa; bị cáo có 02 con nhỏ. Do đó, cần xem xét cho bị cáo được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

    Xét tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng. Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo hình phạt chính là hình phạt tiền với mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp.

  5. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề và thu nhập ổn định, bị cáo đã bị xử phạt tiền là hình phạt chính nên không buộc bị cáo phải chịu hình phạt bổ sung.

    Do bị cáo bị áp dụng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đang còn thời hạn nhưng bị xử phạt tiền nên cần căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 BLTTHS để quyết định hủy Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 28/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 17/4/2024 của TAND tỉnh Quảng Trị đối với bị cáo Nguyễn Thị M.

  6. Về xử lý vật chứng: 01 bản gốc và 02 bản sao tài liệu in nội dung Chứng chỉ Tiếng Anh bậc 5 của Trường Đại học N cấp cho Nguyễn Thị M, sinh ngày 05/12/1991, cấp ngày 26/8/2022, số hiệu DND.F.0001632, số vào sổ cấp chứng chỉ: DDF.F.00311.22; 01 bản sao tài liệu in nội dung Chứng chỉ Tiếng Anh bậc 5 của Trường Đại học N cấp cho Nguyễn Thị M, sinh ngày 05/12/1991, cấp ngày 26/8/2022, số hiệu DND.F.0001632, số vào sổ cấp chứng chỉ: DDF.F.00311.22. Đây là các tài liệu, chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

  7. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị M phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị M: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng chẵn).

  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thị M phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  3. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND CC tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Quảng Trị;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Trị;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Trị;
  • - Công an tỉnh Quảng Trị;
  • - Bị cáo;
  • - Phòng KTNV&THA;
  • - Lưu: HSVA, TỔ HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Việt Trung

4

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ về hình sự - sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG TRỊ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị M phạm tội "Sử dụng con dấu, tà liêu giả của cơ quan, tổ chức"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger