|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HS-ST
Ngày: 25-4-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đậu Cao Nhu.
- Bà Lê Thị Thường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Phương Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phạm Trung C (tên gọi khác: không); sinh năm: 1994 tại tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: lớp 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; Tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phạm T và con bà: Nguyễn Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ, tạm giam: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH T1
Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Minh H1. Chức vụ: Giám đốc. Địa chỉ: Thôn V, xã P, huyện S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Đỗ Văn H2, sinh năm 1976. Nơi cư trú: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt.
2. Bà Phạm Thị M, sinh năm 1990. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
3. Bà Phạm Thị Mai H3, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Xóm A, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
4. Bà Phạm Thị C1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
5. Ông Nguyễn Thanh H4, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Trung C là lái xe công ty TNHH T1 theo hợp đồng thuê tài xế lái xe số 122022 ngày 02/12/2022. Ngày 01/11/2023, ông Đỗ Văn H2 hợp đồng miệng với ông Nguyễn Minh H1 (giám đốc công ty TNHH T1) vận chuyển hoa quả từ miền nam ra các tỉnh miền bắc để giao cho các tiểu thương. Công ty phân công cho C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H - 841.06 đi bốc hàng hoa quả tại tỉnh Bến Tre. C thuê ông Nguyễn Thanh H4 để cùng lái xe đến tỉnh Bến Tre. Quá trình bốc hàng, C trực tiếp gặp các chủ vườn hoa quả để bốc lên thùng xe ô tô, sau đó báo lại cho nhân viên công ty biết để theo dõi đơn hàng và tính tiền cước phí vận chuyển. C đi gom và bốc được 504 thùng hoa quả (gồm 358 thùng chôm chôm, 116 thùng dừa xiêm, 27 thùng bưởi da xanh, 03 thùng hồng xiêm). Sau khi bốc đủ hàng, C điều khiển xe ô tô đi ra B để giao hàng cho các tiểu thương. Đến khoảng 23h cùng ngày, C đã giao cho các tiểu thương tại chợ đầu mối “Hòa Cường” (thuộc Thành phố Đà Nẵng, tỉnh Đà Nẵng) 50 thùng chôm chôm. Sau đó, C tiếp tục điều khiển xe ô tô chở số hoa quả còn lại ra khu vực miền bắc. Đến khoảng 06h ngày 03/11/2023, khi về đến địa phận huyện K, tỉnh Hà Tĩnh, để chiếm đoạt các thùng hoa quả bán lấy tiền trừ đi số tiền lương công ty chưa trả cho C từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2023 và để người quản lý của công ty không biết vị trí, C tắt định vị hành trình của xe ô tô, điều khiển xe chở 454 thùng hoa quả các loại về nhà tại thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An. C gọi điện cho các chị gái Phạm Thị M, Phạm Thị Mai H3, Phạm Thị C1 và nói “Xe ô tô bị hỏng trễ chuyến nên công ty không nhận hàng và phải bán để đền bù”. Nghe C nói vậy, các chị đã cùng C bán 442 thùng các loại hoa quả với giá 68.500.000₫ (sáu mươi tám triệu năm trăm nghìn đồng), còn 12 thùng bưởi da xanh chưa bán được, C cất giấu ở nhà. Sau khi bán được các loại hoa quả trên, C nhờ Nguyễn Thanh H4 điều khiển xe ô tô đi ra cửa hàng xăng dầu (thuộc địa phận phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa) rồi gửi định vị đậu xe ô tô cho C. Sau đó, C nói với H4 đi về và gửi lại vị trí xe ô tô cho bà Lê Thanh D (vợ ông Nguyễn Minh H1) biết để lấy xe ô tô. Sau đó, C đã tắt điện thoại và cắt toàn bộ liên lạc với công ty. Số tiền có được từ việc bán hoa quả, C trả tiền lương cho ông Nguyễn Thanh H4 30.500.000đ (ba mươi triệu năm trăm nghìn đồng), số tiền còn lại C cất dấu ở nhà. Khoảng 09h 30 phút ngày 04/11/2023, phát hiện hàng hóa trên xe ô tô bị mất, ông Nguyễn Minh H1 trình báo đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 04/11/2023, Phạm Trung C tự nguyện giao nộp 12 thùng cattong màu vàng bên trong đựng bưởi da xanh cho cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.
Ngày 06/11/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra công an Thị xã N chuyển nguồn tin về tội phạm cho cơ quan Cảnh sát điều công an huyện Q để xác minh, điều tra theo thẩm quyền.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 927/KL-HĐG ngày 18/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự của Ủy ban nhân dân huyện Q, tỉnh Nghệ An kết luận: 268 thùng hoa quả chôm chôm có giá trị 58.960.000đồng, 40 thùng hoa quả chôm chôm có giá trị 16.800.000đồng, 116 thùng hoa quả dừa xiêm có giá trị tại 18.560.000đồng, 27 thùng hoa quả bưởi da xanh có giá trị tại 16.630.000đồng, 03 thùng hoa quả dừa xiêm có giá trị 804.000đồng, tổng cộng 454 thùng hoa quả có giá trị tại thời điểm bị chiếm đoạt là 111.754.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng).
Bản cáo trạng số 41/CT-VKS-QL ngày 01/4/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo Phạm Trung C về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Trung C từ 30-36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm.
Hình phạt bổ sung: không áp dụng.
Án phí: buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trung C khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì về tội danh. Lời nói sau cùng: Bị cáo rất hối hận, xin giảm nhẹ hình phạt, xin được ở nhà để chăm sóc bố mẹ và bà nội, sửa chữa lỗi lầm, làm người có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Trung C khai nhận: Bị cáo là lái xe của công ty TNHH T1, ngày 01/11/2023 nhận nhiệm vụ vận chuyển 504 thùng hoa quả của anh Đỗ Văn H2 từ các tỉnh miền nam ra các tỉnh miền bắc để giao cho các tiểu thương. Đến ngày 03/11/2023, bị cáo tắt định vị của xe ô tô chở hàng về nhà ở thôn H, xã Q, huyện Q nhờ người bán 454 thùng hoa quả có tổng giá trị 111.754.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng). Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án. Bị cáo có hành vi nhận tài sản của anh Đỗ Văn H2 rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản có giá trị 111.754.000đ (một trăm mười một triệu bảy trăm năm mươi tư nghìn đồng), nhận thức được hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu của người khác, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có năng lực trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 175 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Vụ án có tính chất nghiêm trọng. Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả, bồi thường thiệt hại; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này, thì từ trước tới nay luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Có khả năng tự cải tạo, việc được ở ngoài xã hội không gây nguy hiểm hay ảnh hưởng đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Do đó, không cần thiết phải cách ly mà giao cho chính quyền địa phương cũng đủ để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân có ích. Xử phạt bị cáo với mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[4] Hình phạt bổ sung: Bị cáo có thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
[5] Xử lý vật chứng: 12 (mười hai) thùng cattong màu vàng bên trong đựng bưởi da xanh, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã trả lại cho công ty TNHH T1.
[6] Trách nhiệm dân sự: Bị cáo Phạm Trung C đã bồi thường thiệt hại cho công ty TNHH T1 số tiền 40.000.000đ (bốn mươi triệu đồng) và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Đỗ Văn H2 số tiền 135.200.000đ (một trăm ba mươi lăm triệu hai trăm nghìn đồng). Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường gì thêm.
[7] Một số vấn đề khác: Ông Nguyễn Thanh H4 là người cùng C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 29H1- 841.06; các bà Phạm Thị M, Phạm Thị C1, Phạm Thị Mai H3 giúp C bán hoa quả, nhưng không biết việc C phạm tội, cũng không có thỏa thuận, hứa hẹn gì giữa C và những người này, nên không bị xử lý hình sự là đúng quy định.
[8] Về án phí hình sự: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Căn cứ vào: điểm c khoản 2 Điều 175; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Trung C 30 (ba mươi) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 (năm) năm, về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Phạm Trung C cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành án.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
- 2. Án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo Phạm Trung C phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 25/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Trung Ch phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
