Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN N

TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 14 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông TRẦN QUANG HÒA

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Lan và bà Long Thị Thịnh.

- Thư ký phiên tòa: Ông Ma Văn Chung, là Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa:

Ông Nông Văn Thượng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 11 năm 2024 tại điểm cầu trung tâm, trụ sở Tòa án nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Hoàng Quang N (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 20/4/19xx, tại xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (Học vấn) lớp 09/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn N1 và bà Lý Thị B; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không, tiền sự: 02; nhân thân: Ngày 26/8/2012 đã chấp hành xong hình phạt tù về tội trộm cắp tài sản theo Bản án số 04/2012/HS-ST ngày 01/3/2012 của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần.
  2. Lý Văn T (Tên gọi khác: Không) sinh ngày 18/02/20xx tại xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; HKTT và nơi ở hiện nay: Thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá (Học vấn) lớp 6/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn B1 và bà Lâm Thị Y; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 27/6/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần.

- Người bào chữa cho bị cáo Lý Văn T và Hoàng Quang N: Bà Nông Thị Lệ Quyên là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn theo quyết định số 470/QĐ-TGPL và 471/QĐ-TGPL cùng ngày 24/7/2024 của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Kạn về việc cử trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng, “Có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu trung tâm”.

3. Người tham gia tố tụng khác:

  • + Ông Đinh Quang Tính - Cán bộ Đội THAHS&HTTP Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn;
  • + Ông Hà Hữu Chung - Chiến sỹ nghĩa vụ Đội THAHS&HTTP Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn;
  • + Ông Lê Trung Kiên - Chiến sỹ nghĩa vụ Đội THAHS&HTTP Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn;

Đều có mặt tại điểm cầu thành phần – Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Kạn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 30 phút, ngày 27/6/2024, Tổ công tác Công an huyện N đang thực hiện nhiệm vụ cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm về ma túy tại đường nhựa thuộc tổ nhân dân Phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn thì phát hiện bắt quả tang Lý Văn T điều khiển xe máy nhãn hiệu DETECH màu xanh không gắn biển kiểm soát chở theo Hoàng Quang N theo hướng thôn K – Trung tâm thị trấn Y có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Tang vật thu giữ, tạm giữ: Tại túi quần phía trước bên trái N đang mặc trên người phát hiện 01 gói nilon bên trong có chứa chất màu trắng dạng cục lẫn bột. Tổ công tác tiến hành trích một lượng nhỏ chất màu trắng thử với thuốc thử Heroine do Bộ công an cung cấp, kết quả thuốc thử chuyển sang màu tím. Tổ công tác tiến hành niêm phong thu giữ toàn bộ số chất màu trắng dạng cục lẫn bột vào trong một phong bì ký hiệu A1; tạm giữ 01 xe máy nhãn hiệu DETECH màu xanh không gắn biển số đăng ký.

Hồi 22 giờ 51 phút ngày 27/6/2024 tại trụ sở Công an huyện N cùng có mặt Hoàng Quang N, Lý Văn T, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện đã tiến hành mở niêm phong và cân xác định khối lượng chất dạng cục lẫn bột màu trắng thu giữ trên người N, kết quả: Cân riêng toàn bộ chất màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng là 0,443g, số chất dạng cục lẫn bột màu trắng này được niêm phong trong một phong bì mới ký hiệu là B1.

Hồi 09 giờ 00 phút ngày 28/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 81/LKX-ĐCSHS-KTMT ngày 28/6/2024 đối với chỗ ở, công trình phụ cận khác có liên quan đối với Hoàng Quang N tại thôn Đ, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Hồi 10 giờ 30 phút ngày 28/6/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp số 82/LKX-ĐCSHS-KTMT ngày 28/6/2024 đối với chỗ ở, công trình phụ cận khác có liên quan đối với Lý Văn T tại thôn V, xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Kết quả khám xét không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Tại các biên bản xét nghiệm chất ma túy lập lần lượt vào hồi 22 giờ 45 phút và 22 giờ 48 phút cùng ngày 28/6/2024 tại Công an huyện N đối với Lý Văn T có kết quả: Âm tính với chất ma túy; Hoàng Quang N có kết quả: Dương tính tính (Có sử dụng ma túy Hêrôin).

Ngày 28/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện N đã ban hành quyết định trưng cầu giám định số 225/QĐ-ĐCSHS-KTMT gửi Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để giám định chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì ký hiệu B1. Tại bản kết luận giám định số 238/KL-KTHS ngày 03/7/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất màu trắng dạng cục lẫn bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,443g. Sau khi giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,407g cùng phong bì, bao gói cũ niêm phong vào trong phong bì mới ký hiệu T154 hoàn trả lại cho Cơ quan trưng cầu.

Tại phiếu trả lời xác minh xe của Công an huyện N ngày 29/7/2024 đã trả lời: Biển số 12TA-015.xx, ngày đăng ký 30/7/2018; chủ xe: Nguyễn Khắc L; địa chỉ B, H, T, LS; loại xe 02 bánh dưới 50cm³, nhãn hiệu ESPERO; số loại 50C2 màu sơn xanh; số máy: VDEJQ139FMB2319xxx số khung: RPEKCB3PEHA319xxx; dung tích xi lanh 49cm³; số chỗ ngồi 2.

Tại thông báo kết quả tra cứu vật chứng số 06 ngày 26/7/2024 của Công an huyện N trả lời nội dung yêu cầu tra cứu: Biển kiểm soát: Không có biển kiểm soát; số máy: VDEJQ139FMB2319xxx số khung: RPEKCB3PEHA319xxx không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng.

Quá trình điều tra xác định các tình tiết liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và nhân thân của N và T đúng như lời khai của N và T tại cơ quan điều tra, cụ thể: Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 27/6/2024, T gặp N tại quán bia thuộc xã H, huyện B, tỉnh Lạng Sơn và cùng nhau uống bia; trong lúc uống bia T và N rủ nhau sang huyện N, tỉnh Bắc Kạn để tìm mua ma túy về sử dụng. Sau đó T điều khiển xe máy nhãn hiệu DETECH màu xanh không gắn biển số đăng ký chở N sang huyện N. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, T và N đi đến cầu H, thuộc thôn H, xã K, huyện N thì T dừng xe, tại đây T đưa cho N một tờ tiền mệnh giá 200.000đ để góp tiền mua ma túy, N cầm tiền cất vào trong túi quần đang mặc. Sau khi đưa tiền cho N, T tiếp tục điều khiển xe máy theo chỉ dẫn của N. Khi đi đến đoạn cầu sắt thuộc tổ nhân dân Phố A, thị trấn Y, thì N bảo T xuống xe chờ ở cầu, còn N một mình điều khiển xe máy theo đường đi vào Động N tìm mua ma túy. Trên đường đi gặp một người nam giới không quen biết, N hỏi mua ma túy với người này thì được người này đồng ý bán. N đưa cho người này số tiền 400.000₫ gồm 200.000₫ của N và 200.000₫ của T thì được người này đưa cho 01 gói ma túy. N cất giấu gói ma túy vào trong túi quần đang mặc rồi điều khiển xe máy quay lại đón T, rồi T điều khiển xe máy chở N đi về luôn khi N không phân chia số ma túy mua được cho T. Khi T và N đi được một đoạn thì bị Tổ công tác Công an huyện N phát hiện bắt quả tang. Bản thân N đã được xóa án tích về tội Trộm cắp tài sản và hiện nay có 02 tiền sự; có ông nội Hoàng Xuân T1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến; N có ông ngoại và T có ông nội là Lý Văn T2 tham gia kháng chiến chống Pháp được hưởng chế độ trợ cấp một lần theo Quyết định của Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục chính trị. Lý Văn T không có tiền án tiền sự.

Vật chứng và tài sản thu giữ, tạm giữ trong vụ án gồm:

  • 01 phong bì được niêm phong ký hiệu T154 bên trong có 0,407g ma túy cùng phong bì, bao gói cũ.
  • 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1, bên trong có túi nilon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ;
  • 01 xe máy không gắn biển số đăng ký, màu sơn xanh, số khung RPEKCB3PEHA319xxx, số máy VDEJQ139FMB2319xxx. Qua điều tra xác định chiếc xe máy này có biển số đăng ký 12TA-015.xx, tên chủ xe Nguyễn Khắc L, địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, dung tích xilanh 49cm³, nhãn hiệu ESPERO, sản xuất năm 2018, anh L đã bán chiếc xe này cho người khác. Sau đó, Lý Văn T mua lại chiếc xe này với một người không rõ danh tính tại xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn.

Các vật chứng được bảo quản theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 33/CT-VKSNR ngày 02/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Na Rì để xét xử Hoàng Quang N và Lý Văn T về: "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 (BLHS 2015).

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Hoàng Quang N và Lý Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện N truy tố. Do bản thân họ đều nghiện ma túy nên cùng có mục đích đi tìm mua và nhờ mua hộ ma túy là để về sử dụng cho bản thân không có mục đích nào khác. Các bị cáo không có khiếu nại gì đối với hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng. Ngoài số ma túy bị thu giữ, thì N không bị cơ quan chức năng thu gữ tài liệu, đồ vật gì khác; T bị tạm giữ 01 chiếc xe máy được mua bằng tiền của T và không có ý kiến gì về chiếc xe máy. N và T cho biết bản thân là người nghiện ma túy; không có nghề nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định, không có tài sản riêng; gia đình thuộc hộ nghèo, chưa có vợ, con nên xin được miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm. Tại phiên tòa các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo Hoàng Quang N và Lý Văn T: Bà Nông Thị Lệ Quyên nhất trí với quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, Điều luật, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ cho các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc về hoàn cảnh gia đình, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự cho bị cáo Hoàng Quang N hưởng mức hình phạt từ 15 tháng đến 18 tháng tù; Lý Văn T từ 12 tháng đến 15 tháng tù để các bị cáo có điều kiện sớm trở về hòa nhập cộng đồng; đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện N giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Hoàng Quang N và Lý Văn T phạm tội "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 17 của BLHS 2015;

  • - Về hình phạt chính:
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58 của BLHS 2015.
  • + Xử phạt bị cáo Hoàng Quang N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
  • Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, 58 của BLHS 2015.
  • + Xử phạt Lý Văn T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù;
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tù của cả hai bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 27/6/2024).
  • - Hình phạt bổ sung: Không áp dụng phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo.
  • - Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 (BLTTHS 2015);
  • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì được niêm phong ký hiệu T154 bên trong có 0,407g ma túy cùng phong bì, bao gói cũ; 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1, bên trong có túi nilon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ;
  • + Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước toàn bộ trị giá 01 xe máy không gắn biển số đăng ký, màu sơn xanh, số khung RPEKCB3PEHA319xxx, số máy VDEJQ139FMB2319xxx. Qua điều tra xác định chiếc xe máy này có biển số đăng ký 12TA-015.xx, tên chủ xe Nguyễn Khắc L, địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, dung tích xilanh 49cm³, nhãn hiệu ESPERO, sản xuất năm 2018.
  • - Án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án: Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan điều tra Công an huyện Na Rì, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Na Rì, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Do vụ án có tình tiết, tính chất đơn giản; tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án rõ ràng; các bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu thành và người bào chữa cho các bị cáo tham gia phiên tòa tại điểm cầu trung tâm được bảo đảm trực tiếp theo dõi đầy đủ hình ảnh, âm thanh và tham gia các trình tự, thủ tục tố tụng của phiên tòa bằng lời nói, hành vi tố tụng liên tục, công khai, vào cùng một thời điểm, nên đủ điều kiện để mở phiên tòa trực tuyến.

[2] Về trách nhiệm hình sự: Lời khai nhận tội của Hoàng Quang N và Lý Văn T tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan Điều tra và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy, có đủ cơ sở kết luận:

Các bị cáo N, T đều là người nghiện ma túy. Các bị cáo đều biết nhau là người nghiện; cùng rủ nhau đi mua ma túy để về cùng sử dụng cho bản thân; cùng nhau mỗi người góp 200.000đ để mua ma túy. Trên đường đi mua ma túy và tại thời điểm bị bắt thì T là người trực tiếp điều khiển xe máy chở N; N là người trực tiếp cầm tiền của T và của bản thân để mua ma túy. Tổng khối lượng ma túy loại Heroine bị tổ công tác Công an huyện N thu giữ trong túi quần phía trước bên trái trên người N đang mặc vào hồi 21 giờ 30 phút ngày 27/6/2024 tại đoạn đường nhựa thuộc tổ nhân dân Phố A, thị trấn Y, huyện N, tỉnh Bắc Kạn là 0,443g.

Hành vi nêu trên của Hoàng Quang N và Lý Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy", tội danh và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 của BLHS 2015, nội dung điều luật quy định:

"1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản;".

[3] Xét về các tình tiết quyết định mức hình phạt:

Xét về vai trò của từng bị cáo: Như đã phân tích ở trên, các bị cáo đều là người nghiện ma túy và quen biết nhau; các bị cáo cùng rủ nhau đi mua ma túy. Để mua được ma túy, các bị cáo cùng nhau góp tiền; bị cáo T sử dụng xe máy của T chở N đi mua ma túy; N là người tìm chỗ mua ma túy, trực tiếp mua ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy. Vì vậy, trong vụ án này, các bị cáo phạm tội với hình thức đồng phạm giản đơn. Trong đó, N phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy và T đồng phạm với N về tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nghiêm trọng. Bị cáo Hoàng Quang N, Lý Văn T cùng phạm tội "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy" với tổng khối lượng là 0,443g. Khi phạm tội, các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý các chất biệt dược của Nhà nước, gây ra các tệ nạn ma túy; để lại hậu quả nặng nề cho gia đình có người nghiện và xã hội; làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương.

Xét về nhân thân: Các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; không có tiền án. Ngày 01/3/2012, Hoàng Quang N đã bị Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn xét xử bằng bản án số 04/2012/HS-ST về tội trộm cắp tài sản với mức hình phạt 09 tháng tù. Ngày 26/8/2012, bị cáo đã chấp hành xong án phạt tù theo biên bản xác minh lập ngày 06/9/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N với Trại tạm giam Công an tỉnh Lạng Sơn và đã chấp hành xong tiền án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo biên bản xác minh ngày 06/9/2024 của Cơ quan CSĐT Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn và chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự. Tuy nhiên, việc bị cáo chưa chấp hành xong nghĩa vụ dân sự đối với bị hại là do bị hại không yêu cầu thi

hành án và cũng không có lý do theo biên bản xác minh ngày 02/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện N với Chi cục thi hành án dân sự huyện B, tỉnh Lạng Sơn; tính từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến nay thì khoản tiền còn phải thi hành án của bị cáo đối với bị hại đã hết thời hiệu yêu cầu thi hành theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự. Về tiền sự: Ngày 25/12/2023, Hoàng Quang N đã bị Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản với hình thức xử phạt bằng tiền theo Quyết định số 62/QĐ-XPHC và ngày 26/12/2023 N đã chấp hành xong theo biên lai thu thuế, lệ phí và thu phạt vi phạm hành chính số 3692904 của Agribank Chi nhánh huyện B, tỉnh Lạng Sơn. Khi chưa hết thời hạn để được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính của Quyết định số 62 nói trên thì ngày 10/6/2024, N tiếp tục bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quyết định số 04/QĐ-TA của Tòa án nhân dân huyện B, tỉnh Lạng Sơn và sau đó bỏ trốn nên đã bị Công an huyện B truy tìm người có quyết định đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc bỏ trốn bằng Quyết định số 02/QĐ-TT ngày 25/6/2024. Bị cáo Lý Văn T không có tiền sự.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo N có ông nội là Hoàng Xuân T1 được Chủ tịch Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba do đã có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước theo Quyết định số 155 KT/CNT ngày 24/4/2000. Ngoài ra Hoàng Quang N và Lý Văn T có ông Lý Văn T2 (Ông T2 là ông ngoại của N, là ông nội của T) được Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam quyết định thực hiện chế độ trợ cấp một lần đối với Quân nhân, Công nhân viên quốc phòng tham gia kháng chiến chống pháp theo Quyết định số 101/QĐ-CT ngày 10/02/2006 của Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị, nên các bị cáo đều được hưởng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân các bị cáo, ý thức tu dưỡng rèn luyện, thái độ chấp hành pháp luật của từng bị cáo; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tổng hợp các tình tiết của vụ án. Hội đồng xét xử xét thấy phải xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo; cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo tính giáo dục và phòng ngừa chung, đồng thời tiếp tục tạm giam các bị cáo để đảm bảo thi hành án cho các bị cáo.

[4] Về hình phạt bổ sung: Do bản thân các bị cáo có nghề nghiệp là lao động nông nghiệp, thu nhập thấp và không ổn định; đều thuộc hộ nghèo, cận nghèo, không có tài sản riêng theo các biên bản xác minh đề cùng ngày 05/9/2024 giữa Công an huyện N với UBND xã H, không có khả năng thi hành án, nên xét thấy cần miễn áp dụng hình phạt tiền bổ sung đổi với bị cáo là có cơ sở

[5] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán Heroine cho Hoàng Quang N ngày 27/6/2024, do không xác định được lai lịch của người này nên Cơ quan Điều tra không có căn cứ để xử lý theo pháp luật là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • 01 phong bì được niêm phong ký hiệu T154 bên trong có 0,407g ma túy cùng phong bì, bao gói cũ là vật Nhà nước cấm lưu hành và đã được giám định theo tố tụng hình sự cùng 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1, bên trong có túi nilon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ là vật chứng của vụ án liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu tiêu hủy.
  • 01 xe máy không gắn biển số đăng ký, màu sơn xanh, số khung RPEKCB3PEHA319xx, số máy VDEJQ139FMB2319xxx. Qua điều tra xác định chiếc xe máy này có biển số đăng ký 12TA-015.x, tên chủ xe Nguyễn Khắc Lượng, địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, dung tích xilanh 49cm³, nhãn hiệu ESPERO, sản xuất năm 2018, đã được anh L đã bán cho người khác. Sau đó, Lý Văn T mua lại chiếc xe này với một người không rõ danh tính tại xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn và đến nay không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng theo Thông báo kết quả tra cứu vật chứng số 06 ngày 26/7/2024 của Công an huyện N, tỉnh Bắc Kạn nên xác định Lý Văn T là chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe máy trên. Trước khi chiếc xe máy trên được Hoàng Quang N sử dụng vào việc phạm tội thì Lý Văn T biết được mục đích sử dụng chiếc xe máy này của N là để đi mua ma túy về sử dụng chung cho T và N nên cần tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước toàn bộ trị giá của chiếc xe.

Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 10/10/2024.

[7] Về án phí: Các bị cáo đều thuộc hộ nghèo, cận nghèo và cùng là người dân tộc thiểu số sinh sống tại xã thuộc khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; cùng có đơn xin miễn tiền án phí nên xét thấy cần miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo theo quy định của pháp luật.

[8] Quan điểm bào chữa của người bào chữa cho các bị cáo về tội danh, mức hình phạt, biện pháp tư pháp; quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố; điều luật, mức hình phạt chính, hình phạt bổ sung, xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp của kiểm sát viên đề nghị áp dụng cho các bị cáo là phù hợp và có căn cứ theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; 17, 38, 47, 58 của BLHS 2015;

Căn cứ Điều 106, Điều 329, 331, 333 của BLTTHS 2015.

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

[1] Về tội phạm:

Tuyên bố các bị cáo Hoàng Quang N (Tên gọi khác: Không) và Lý Văn T (Tên gọi khác: Không) phạm tội "Tội tàng trữ trái phép chất ma túy".

[2] Về hình phạt:

Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015.

  • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Hoàng Quang N 24 (Hai mươi tư) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 27/6/2024).
  • Căn cứ vào điểm c, khoản 1, Điều 249; điểm s, khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của BLHS 2015.
  • - Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Lý Văn T 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 27/6/2024).

Tiếp tục giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để bảo đảm cho việc thi hành án.

- Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho các bị cáo Hoàng Quang N và Lý Văn T.

[3] Về vật chứng:

  • Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì được niêm phong ký hiệu T154 bên trong có 0,407g ma túy cùng phong bì, bao gói cũ và 01 phong bì niêm phong có ký hiệu C1, bên trong có túi nilon, giấy gói, phong bì niêm phong cũ.
  • Tịch thu hóa giá sung ngân sách Nhà nước toàn bộ trị giá chiếc xe máy Biển số 12TA-015.xx (Không gắn biển số), ngày đăng ký 30/7/2018; chủ xe: Nguyễn Khắc L; địa chỉ: Thôn B, xã H, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; loại xe 02 bánh dưới 50cm³, nhãn hiệu ESPERO (Có dòng chữ DETECH tại bưởng máy); số loại 50C2 màu sơn xanh; số máy: VDEJQ139FMB2319xxx; số khung: RPEKCB3PEHA319xxx; dung tích xi lanh 49cm³; số chỗ ngồi 2 thuộc quyền sở hữu của bị cáo Lý Văn T.

Số lượng, tình trạng, đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Huyện với Chi cục thi hành án dân sự huyện N lập ngày 10/10/2024.

[4] Về án phí:

Miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Hoàng Quang N và Lý Văn T.

[5] Quyền kháng cáo:

Án xử công khai sơ thẩm có mặt các bị cáo. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo; người bào chữa;
  • - VKS huyện N; VKS tỉnh Bắc Kạn;
  • - TA tỉnh Bắc Kạn;
  • - Sở Tư pháp Bắc Kạn;
  • - Công an huyện N;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Bắc Kạn;
  • - Phòng quản lý hồ sơ CA Huyện;
  • - UBND xã H;
  • - TAND huyện B;
  • - THA hình sự;
  • - THA dân sự;
  • - Lưu Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã Ký)

TRẦN QUANG HÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN về tội tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN N, TỈNH BẮC KẠN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chấp ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger