|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày 26 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Văn Vinh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Ngọc Hà.
- Ông Thạch Văn Hoà.
Thư ký phiên toà: Ông Nông Văn Nguyên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Phúc – Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 08 năm 2024 tại Phòng xử án, trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Tuấn A, sinh ngày 01-7-1995 tại tỉnh Sóc Trăng; nơi cư trú: Số F, ấp T, xã A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1954 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1958; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 30-01-2024, sau đó chuyển tạm giam cho đến nay. (có mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Hữu T, sinh năm 2004; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
- Ông Vương Đình U, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt)
Người làm chứng: Ông Lâm Bích Đ, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Nơi cư trú: ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 29-01-2024, bị cáo Nguyễn Tuấn A đi xe ôm đến khu vực chợ M, thuộc thành phố S, tỉnh Sóc Trăng gặp một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) để mua 02 gói ma túy với giá 600.000 đồng. Sau đó, Nguyễn Tuấn A đi xe ôm về nhà trọ L, thuộc ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng (nơi bị cáo thuê trọ để ở), tại đây (Phòng trọ số 20), bị cáo lấy số ma túy vừa mới mua chia ra thành 10 phần rồi bỏ vào 10 gói nylon không màu để tiện cho việc cất giấu và sử dụng, còn lại một ít ma túy thì bị cáo bỏ vào nỏ để sử dụng một mình. Đến ngày 30-01-2024, Trần Hữu T và Lâm Bích Đ đến phòng trọ của bị cáo chơi. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi cùng ăn cơm xong, Lâm Bích Đ lên võng nằm ngủ, lúc này Trần Hữu T mới hỏi bị cáo còn đồ không (tức là còn ma túy không để sử dụng) thì bị cáo mới lấy bộ dụng cụ gồm chai nhựa và nỏ, trong nỏ còn một ít ma túy mà bị cáo sử dụng còn dư trước đó để sử dụng tiếp. Lúc này, bị cáo dùng bật lửa đốt lên hút một hơi rồi đưa cho Trần Hữu T sử dụng. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, lực lượng Công an huyện C phối hợp với Công an xã A tiến hành kiểm tra tại phòng trọ nêu trên, tại phòng trọ số 20 (phòng trọ bị cáo thuê để ở) thì phát hiện có 10 gói nylon không màu, được hàn kín hai đầu, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng, nghi là ma túy và 02 bộ dụng cụ nghi là dùng để sử dụng ma túy, nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ và niêm phong các tang vật có liên quan để điều tra làm rõ.
Tại bản Kết luận giám định số: 21/KLMT-KTHS, ngày 04-02-2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:
- Gói 01: Mẫu tinh thể rắn màu trắng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,9433 gam (không phẩy chín bốn ba ba gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.
- Gói 02: Mẫu chất rắn màu vàng được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0161 gam (không phẩy không một sáu một gam, không kể bao bì), loại Methamphetamine.”
Tại các Biên bản về việc lấy mẫu nước tiểu để xét nghiệm chất ma túy, cùng ngày 30/01/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng thể hiện: bị cáo Trần Tuấn A và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trần Hữu T đều dương tính với chất ma túy, loại Methamphetamine.
Ngày 02-02-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định khởi tố bị can và áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam đối với Nguyễn Tuấn A, về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Đến ngày 07-5-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C ra quyết định bổ sung quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định bổ sung quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Tuấn A về “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng của vụ án: trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định tạm giữ:
- Tạm giữ của bị cáo Nguyễn Tuấn A: 0,8602 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định; 01 ống thủy tinh (nỏ), 01 chai nhựa không màu và bao gói còn lại sau giám định; Tiền Việt Nam 679.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, biển số 83C1-406.96; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 10, màu xanh, IMEI 1: 869389050762902, có gắn sim 1 số 0352541140, IMEI 2: 869389050762910 có gắn sim 2 số 0388983644; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu xanh, mũi bằng kim loại, chiều dài 12,5cm; 05 (năm) gói nylon không màu, trong suốt hàn kín một đầu, kích thước 04cm x 0,5cm; 07 (bảy) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 25cm x 04cm; 01 (một) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 5,5cm x 04cm; 03 (ba) chiếc hột quẹt (bật lửa) gồm 01 chiếc màu tím và 02 chiếc màu đỏ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm bình và nỏ.
- Tạm giữ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu T: tiền Việt Nam 304.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, số IMEI 1: 861065062860060/00, IMEI 2: 861065062860078/00, có gắn sim 1 số 0346645016 và sim 2 số 0346475520.
- Tạm giữ của người làm chứng ông Lâm Bích Đ: tiền Việt Nam: 85.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 357220072022091/16, số IMEI2: 357221072022099/16 có gắn sim 1 số có gắn số 0776591013 và sim 2 số 0559734626; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu xanh, số IMEI 1: 865725042765921, số IMEI 2: 865725042765939, không có gắn sim.
Sau đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Sóc Trăng đã ra quyết định xử lý vật chứng, bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp các tài sản, đồ vật sau:
- Trả lại cho bị cáo Nguyễn Tuấn A: Tiền Việt Nam 679.000 đồng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen, biển số 83C1-406.96; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Redmi 10, màu xanh, IMEI 1: 869389050762902, có gắn sim 1 số 0352541140, IMEI 2: 869389050762910 có gắn sim 2 số 0388983644.
- Trả lại cho người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu T: tiền Việt Nam 304.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh, số IMEI 1: 861065062860060/00, IMEI 2: 861065062860078/00, có gắn sim 1 số 0346645016 và sim 2 số 0346475520.
- Trả lại cho người làm chứng ông Lâm Bích Đ: Tiền Việt Nam: 85.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 357220072022091/16, số IMEI2: 357221072022099/16 có gắn sim 1 số có gắn số 0776591013 và sim 2 số 0559734626; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Huawei màu xanh, số IMEI 1: 865725042765921, số IMEI 2: 865725042765939, không có gắn sim.
Đối với các vật chứng còn lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS-CT ngày 24-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về “Tội tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo A. Phát biểu luận tội, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp 02 tội danh đề nghị xử phạt bị cáo từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm 06 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30-01-2024.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- Tịch thu và tiêu hủy: 0,8602 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định; 01 ống thủy tinh (nỏ), 01 chai nhựa không màu và bao gói còn lại sau giám định. 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu xanh, mũi bằng kim loại, chiều dài 12,5cm; 05 (năm) gói nylon không màu, trong suốt hàn kín một đầu, kích thước 04cm x 0,5cm; 07 (bảy) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 25cm x 04cm; 01 (một) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 5,5cm x 04cm; 03 (ba) chiếc hột quẹt (bật lửa) gồm 01 chiếc màu tím và 02 chiếc màu đỏ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm bình và nỏ.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm của mình là sai trái, là vi phạm pháp luật nên không có tranh luận, lời nói sau bị cáo chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng pháp luật.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Hữu T, ông Vương Đình Ư; người làm chứng ông Lâm Bích Đ. Những người này đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, xét thấy sự vắng mặt của những người này không gây trở ngại cho việc xét xử, tại phiên tòa bị cáo A đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án và đại diện Viện kiểm sát không yêu cầu hoãn phiên toà. Đồng thời tại giai đoạn điều tra, những người này đã có lời khai đầy đủ nếu thấy cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai. Căn cứ vào các Điều 292, 293, 299 và Điều 308 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục tiến hành xét xử vụ án.
[3] Xét hành vi của bị cáo, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, gây mất an ninh, trật tư toàn xã hội ở địa phương. Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, tổ chức, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, được pháp luật nghiêm cấm và nếu vị phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý và cho người khác cùng sử dụng ma tuý bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra, bị pháp luật trừng trị. Hành vi của bị cáo làm cho các tệ xã hội phát sinh từ đây, ảnh hưởng đến sức khỏe, suy giảm khả năng lao động của con người. Tại phiên tòa, bị cáo A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản hiện trường, kết luận định giám định, vật chứng thu giữ đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận. Ngày 29-01-2024, bị cáo đã có hành vi mua ma túy từ một người thanh niên (không rõ họ tên, địa chỉ) với số tiền 600.000 đồng tại khu vực chợ M, thuộc thành phố S, tỉnh Sóc Trăng rồi đem về phòng trọ số 20, thuộc Nhà trọ L tại ấp P, xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng phân chia ra thành 10 gói nhỏ để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng, còn dư lại một ít thì bị cáo bỏ vào nỏ để sử dụng một mình. Đến khoảng hơn 15 giờ, ngày 30-01-2024, bị cáo Nguyễn Tuấn A tiếp tục có hành vi cung cấp ma túy, dụng cụ để cùng với Trần Hữu T sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của mình, sau đó thì bị bắt quả tang. Tổng khối lượng chất ma túy mà bị cáo tàng trữ qua giám định là 0,9594 gam, loại Methamphetamine (trong đó, trong 10 gói nylon là 0,9433 gam, trong nỏ thủy tinh là 0,0161 gam).
Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Sóc Trăng đã truy tố bị cáo Nguyễn Tuấn A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do đó, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo là cần thiết để có thời gian cách ly bị cáo ra khỏi xã hội nhằm tạo điều kiện cho bị cáo từ bỏ con đường nghiện ngập, để học tập cải tạo trở thành người công dân tốt, biết tôn trọng pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như sau:
[4.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; trước khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có cha ông Nguyễn Văn B và mẹ bà Nguyễn Thị N là từng tham gia cách mạng. Bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 các Điều 249 và Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm. Hội đồng xét xử xét thấy tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo còn khó khăn nên quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng:
[6.1] Đối với 0,8602 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành, Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
[6.2] Đối với: 01 ống thủy tinh (nỏ), 01 chai nhựa không màu và bao gói còn lại sau giám định; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu xanh, mũi bằng kim loại, chiều dài 12,5cm; 05 (năm) gói nylon không màu, trong suốt hàn kín một đầu, kích thước 04cm x 0,5cm; 07 (bảy) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 25cm x 04cm; 01 (một) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 5,5cm x 04cm; 03 (ba) chiếc hột quẹt (bật lửa) gồm 01 chiếc màu tím và 02 chiếc màu đỏ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm bình và nỏ, là dụng cụ và phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng. Hội đồng xét xử quyết định tịch thu và tiêu hủy.
[7] Đối với người thanh niên bán ma túy cho bị cáo và 02 người đàn ông hành nghề xe ôm chở bị can đi mua ma túy, đi về phòng trọ. Quá trình di chuyển đi mua ma túy và sau khi mua được ma túy về phòng trọ thì bị cáo đi bằng xe ôm do 02 người đàn ông khác nhau chở (không rõ, họ tên địa chỉ). Trong quá trình điều tra, do không xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ của các đối tượng nêu trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C chưa triệu tập được để điều tra làm rõ. Do đó, khi nào xác định được nhân thân lai lịch, địa chỉ và làm việc được với các đối tượng nêu trên, nếu có căn cứ thì xem xét xử lý sau.
[8] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Trần Hữu T: trong quá trình điều tra đã chứng minh được, Trần Hữu T là người được bị cáo Nguyễn Tuấn A tổ chức cho sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy, hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Hữu T là vi phạm hành chính, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã chuyển hồ sơ cho Công an xã A, huyện C, tỉnh Sóc Trăng để xử lý theo quy định của pháp luật, nên không đặt ra xem xét.
[9] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Vương Đình Ư: trong quá trình điều tra đã chứng minh được ông Vương Đình Ư là chủ Nhà trọ L, nơi bị cáo Nguyễn Tuấn A thực hiện hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy. Xét thấy, việc bị cáo Nguyễn Tuấn A thực hiện hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng số 20 Nhà T thì ông Vương Đình Ư không biết, nên không đặt ra xem xét.
[10] Kiểm sát viên đề nghị áp dụng pháp luật về tội danh, tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, bị cáo là người bị kết án nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Tuấn A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 38; Điều 50; Điều 55 Bộ luật Hình sự.
- Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a, c khoản 2, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Tuấn A 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30-01-2024.
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu và tiêu hủy: 0,8602 gam mẫu tinh thể rắn màu trắng và vỏ, bao gói còn lại sau giám định. 01 ống thủy tinh (nỏ), 01 chai nhựa không màu và bao gói còn lại sau giám định; 01 (một) cây kéo có cán bằng nhựa màu xanh, mũi bằng kim loại, chiều dài 12,5cm; 05 (năm) gói nylon không màu, trong suốt hàn kín một đầu, kích thước 04cm x 0,5cm; 07 (bảy) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 25cm x 04cm; 01 (một) gói nylon không màu, trong suốt, hàn kín một đầu, kích thước 5,5cm x 04cm; 03 (ba) chiếc hột quẹt (bật lửa) gồm 01 chiếc màu tím và 02 chiếc màu đỏ; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma tuý gồm bình và nỏ.
- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Tuấn A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm với số tiền là 200.000 đồng.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với những người người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA (Đã Ký) Võ Văn Vinh |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 26/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tuấn A có hành vi mua ma tuý trái phép để cất giấu sử dụng cá nhân tại phòng trọ. Khi người bạn của bị cáo đến nhà trọ chơi và hỏi còn ma tuý để sử dụng không thì bị cáo mang ma tuý, dụng cụ hỗ trợ sử dụng ma tuý ra để bị cáo và bạn của bị cáo sử dụng ma tuý
