Hệ thống pháp luật
Bản án Sơ thẩm

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

----------------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-------------------------

Số: 123/2024/DS-ST

TP. Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 5 năm 2024

BẢN ÁN SƠ THẨM

VỀ TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN

Hôm nay, ngày 15 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 45/2024/TLST-DS ngày 01 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2024/QĐXXST-DS ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

I. NGUYÊN ĐƠN:

Ông Nguyễn Văn A, sinh năm 1980. Địa chỉ: Số 10, đường X, Phường Y, Quận Z, TP. Hồ Chí Minh. (Có mặt).

II. BỊ ĐƠN:

Bà Trần Thị B, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số 20, đường M, Phường N, Quận P, TP. Hồ Chí Minh. (Vắng mặt lần thứ hai, có đơn xin xét xử vắng mặt).

III. NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai tại Tòa án, Nguyên đơn ông Nguyễn Văn A trình bày: Ngày 01/01/2023, ông A có cho bà B vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) với lãi suất 1%/tháng, thời hạn vay 12 tháng. Khi đến hạn, bà B không trả nợ. Nay ông A yêu cầu Tòa án buộc bà B phải trả lại toàn bộ số tiền gốc là 500.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh theo quy định của pháp luật.

Bị đơn bà Trần Thị B trong bản tự khai xác nhận có vay của ông A số tiền 500.000.000 đồng nhưng cho rằng lãi suất thỏa thuận là 0.5%/tháng và đã trả được 50.000.000 đồng tiền gốc. Bà B đề nghị Tòa án cho trả nợ dần trong vòng 6 tháng.

IV. NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị đơn vắng mặt lần thứ hai nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Bị đơn.

[2] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào các chứng cứ, Tòa án xác định giữa ông A và bà B tồn tại quan hệ hợp đồng vay tài sản. Hợp đồng vay được xác lập hợp pháp.

[3] Về nghĩa vụ trả nợ: Xét thấy, bà B thừa nhận có vay 500.000.000 đồng. Tuy nhiên, không có chứng cứ chứng minh bà B đã trả 50.000.000 đồng tiền gốc như lời khai. Do đó, bà B phải có nghĩa vụ trả toàn bộ số tiền gốc là 500.000.000 đồng cho ông A.

[4] Về lãi suất: Căn cứ Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015, lãi suất thỏa thuận không vượt quá 20%/năm. Mức lãi suất 1%/tháng (tương đương 12%/năm) mà ông A yêu cầu là phù hợp với quy định pháp luật.

V. QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 147, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

TUYÊN XỬ:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Nguyễn Văn A.
  2. Buộc bà Trần Thị B phải trả cho ông Nguyễn Văn A tổng số tiền nợ gốc và lãi là 560.000.000 đồng (Năm trăm sáu mươi triệu đồng), bao gồm:
    • - Tiền gốc: 500.000.000 đồng.
    • - Tiền lãi tính đến ngày xét xử: 60.000.000 đồng.
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà B không trả số tiền trên, bà B còn phải chịu lãi suất chậm thi hành án theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị B phải chịu 28.000.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết hợp lệ.

THƯ KÝ PHIÊN TÒA

(Ký tên)

Lê Thị C

THẨM PHÁN

(Ký tên)

Phạm Văn D

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 123/2024/DS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 123/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Gia K và bị cáo Lê Minh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” ( điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger