Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN VẠN NINH

TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 16/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hòa Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Tám

    Nghề nghiệp: Cán bộ hưu trí.

  2. Ông Huỳnh Thái Việt

    Nghề nghiệp: Bí thư Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xã Vạn Thắng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Anh Quốc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hoà.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Duy Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã mở phiên tòa xét xử vụ án hình sự thụ lý số 11/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 02 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2024/HSST-QĐ ngày 14 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST-QĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 05/2024/TB-TA ngày 16 tháng 4 năm 2024 đối với:

  1. Bị cáo Lê Nhật T, sinh năm 2000 tại V, Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn A, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Lệ T1, sinh năm 1976; tiền án; tiền sự: Không; bị cáo không bị tạm giữ, tạm

2

giam. Hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

  1. Bị cáo Lê Trần Nhật T2, sinh năm 2005 tại V, Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lê Văn A, sinh năm 1972 và bà Trần Thị Lệ T1, sinh năm 1976; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: Ngày 20/3/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Quyết định khởi tố bị can số 127/QĐ-CSHS; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  2. Bị cáo Phan Văn P (tên gọi khác: Cu R), sinh ngày 06/4/2006 tại V, Khánh Hòa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Phan Văn B, sinh năm 1983 và bà Lê Thị H, sinh năm 1984; tiền án; tiền sự: Không, nhân thân: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

- Bị hại:

  1. Ông Lê Huỳnh A1, sinh năm 1963; trú tại: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
  2. Ông Lương Đình L, sinh năm 1957; nơi cư trú: Tổ G, X, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Huy H1, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn T, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Nhật T cho rằng việc bị cha của mình la mắng là do Trần Huy H1 có nói việc T cùng Lê Trần Nhật T2 (em trai T) thường xuyên chạy xe qua lại cây xăng V gây ảnh hưởng nên T bực tức H1. Khoảng 15 giờ 00 ngày 08/7/2023, trong lúc cùng Lê Trần Nhật T2Phan Văn P đang đứng chơi trước nhà tại thôn T - xã V - huyện V - tỉnh Khánh Hòa thì Lê Nhật T nhìn thấy anh Trần Huy H1 điều khiển xe mô tô 77K1-021.04 chở ông Lê Huỳnh A1 ngồi giữa và Lương Đình L ngồi sau đi ngang qua, T chạy vào sân nhà lấy 01 vỏ chai bia thủy tinh loại Dung Quất cầm trên tay phải ném về phía xe của H1 thì trúng vào tay trái H1, H1 vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Lúc này, T nói với T2 “Em vô

3

nhà lấy vỏ chai bia” thì T2 chạy vô sân nhà lấy 04 (bốn) vỏ chai bia thuỷ tinh, T cũng vào lấy 02 (hai) vỏ chai bia thuỷ tinh loại Dung Q cầm trên tay, tiếp đến T kêu Phan Văn P điều khiển xe mô tô của P đuổi theo. P đồng ý và sử dụng xe mô tô 64K3-9822 chở T ngồi giữa, T2 ngồi phía sau đuổi theo xe của anh H1.

Khi đi đến đoạn đường gần đường rẽ vào quán nhậu "Đ" thuộc thôn T - xã V - huyện V - tỉnh Khánh Hòa thì xe của nhóm T áp sát phía sau bên trái so với xe do H1 điều khiển và cách khoảng 4-5 mét. Thấy xe mô tô của nhóm T rượt đuổi nên ông Lương Đình L quay người bên phải nhìn về phía sau thì bị T sử dụng tay phải cầm vỏ chai bia ném trúng vào vùng mắt bên phải làm ông L té ngã sấp xuống đường gây thương tích. T tiếp tục sử dụng tay phải cầm vỏ chai bia ném tiếp về phía xe mô tô của H1 thì trúng vào mặt bên trái của ông Lê Huỳnh A1 gây thương tích, cùng lúc này thì T2 cũng sử dụng 02 vỏ chai bia ném 02 lần hướng vào xe mô tô của H1 nhưng không trúng ai. H1 vẫn tiếp tục điều khiển xe mô tô 77K1-021.04 chở ông A1 bỏ chạy còn nhóm của T không đuổi theo mà dừng xe lại xem ông L có bị thương tích gì không rồi bỏ đi. Sau đó, ông L được người dân đưa đi sơ cứu vết thương tại Trạm y tế xã V, còn ông A1 cũng đến Trạm y tế xã V để sơ cứu vết thương rồi đi đến Công an xã V trình báo sự việc. Sau khi làm việc với Cơ quan Công an, T, T2P đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 639/23/KLTTCT-PYKH ngày 06/9/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tổn thương cơ thể của ông Lê Huỳnh A1 tại thời điểm giám định là 03% (ba phần trăm).

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 638/23/KLTTCT-PYKH ngày 06/9/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tổn thương cơ thể của ông Lương Đình L tại thời điểm giám định là 05% (năm phần trăm).

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 637/23/KLTTCT-PYKH ngày 06/9/2023 của Trung tâm P1 kết luận: Tổn thương cơ thể của anh Trần Huy H1 tại thời điểm giám định là 00% (không phần trăm).

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSNT ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố các bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, thể hiện sự ăn năn hối cải. Bị cáo T2, P xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

4

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên nội dung đã truy tố theo bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Nhật T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lê Trần Nhật T3 từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a, i khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các Điều 91, 101 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phan Văn P từ 06 tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Lê Huỳnh A1 và ông Lương Đình L bị các bị cáo gây thương tích nhưng ông A1, ông L không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị và không còn yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Huy H1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị và không còn yêu cầu gì khác nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét

Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy các vỏ chai bia và các mảnh vỡ chai bia dung quất theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại phiên tòa bị hại ông Lương Đình L và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Huy H1 vắng mặt. Tuy nhiên, lời khai của họ đã có tại hồ sơ vụ án, xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[1.2] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự,

5

thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên cũng như của các cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng là hợp pháp, đúng pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo có trong hồ sơ vụ án, phù hợp với lời khai của bị hại; các Kết luận giám định, bản ảnh hiện trường, biên bản xác định hiện trường; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án cũng như qua phần xét hỏi, tranh luận công khai tại phiên toà có đủ cơ sở kết luận:

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt với Trần Huy H1 mà khoảng 15 giờ 00 ngày 08/7/2023, tại khu vực trước nhà L thuộc thôn T - xã V - huyện V - tỉnh Khánh Hòa, Lê Nhật T3 đã có hành vi sử dụng vỏ chai bia thuỷ tinh loại Dung Quất (là hung khí nguy hiểm) ném trúng vào tay trái của anh Trần Huy H1 khi anh H1 đang điều khiển xe mô tô chở ông Lê Huỳnh A1 và ông Lương Đình L đi ngang qua. Khi thấy anh H1 điều khiển xe mô tô tiếp tục bỏ chạy thì Phan Văn P sử dụng xe mô tô biển kiểm soát 64K3-9822 chở Lê Nhật T3Lê Trần Nhật T2 mang theo 06 (sáu) vỏ chai bia thuỷ tinh loại Dung Quất rượt đuổi; khi đuổi đến đoạn đường khu vực gần đường rẽ vào quán nhậu "Đ" thuộc thôn T - xã V - huyện V - tỉnh Khánh Hòa thì T3T2 sử dụng 04 (bốn) vỏ chai bia ném trúng vào vùng mắt bên phải ông Lương Đình L làm ông L té ngã xuống đất gây thương tích với tổng tỷ lệ thương tật là 05% (năm phần trăm), ném trúng vào vùng mặt bên trái ông Lê Huỳnh A1 với tỷ lệ thương tật là 03% (ba phần trăm).

Theo quy định tại khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự thì:

“1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  1. Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
  2. Có tính chất côn đồ....”

Hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

6

Từ các nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 13/CT-VKSNT ngày 02 tháng 02 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa truy tố các bị cáo Lê Nhật T3, Lê Trần Nhật T2, Phan Văn P về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận định:

Đối với bị cáo Lê Nhật T3: Bị cáo là người cầm đầu, khi thấy anh H1 chở ông A1, ông L chạy ngang qua nhà bị cáo đã cầm chai bia ném về phía anh H1. Mặc dù anh H1 bỏ chạy nhưng bị cáo vẫn kêu bị cáo T2P rượt theo anh H1. Hai lần cầm vỏ chai bia ném về phía xe anh H1 gây thương tích cho ông A1 và ông L. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương; gây lo lắng trong quần chúng nhân dân. Tuy nhiên xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo để trở thành công dân có ích cho cho xã hội.

Đối với bị cáo Lê Trần Nhật T2: Mặc dù bị cáo không phải là người cầm đầu, nhưng khi bị cáo T3 kêu cầm chai bia để đi đánh anh H1 thì bị cáo hưởng ứng ngay. Bị cáo trực tiếp cầm theo 4 chai bia. Khi đến gần xe anh H1 bị cáo hai lần ném vỏ chai bia về phía xe của anh H1. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại được pháp luật tôn trọng và bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương; gây lo lắng trong quần chúng nhân dân. Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng về nhân thân thì bị cáo là người có nhân thân xấu (Ngày 20/3/2023 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K khởi tố bị can về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo Quyết định khởi tố bị can số 127/QĐ-CSHS). Tuy nhiên xét thấy, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo để trở thành công dân có ích cho cho xã hội.

Đối với bị cáo Phan Văn P: Bị cáo Phan Văn P tuy là người chưa thành niên, nhưng khi bị cáo T3 đề nghị chở T3T2 đi đánh anh H1 thì bị cáo đồng

7

ý ngay, trực tiếp điều khiển xe mô tô chở T3T2 rượt theo xe của anh H1, mặc dù bị cáo không trực tiếp anh thương tích cho ông A1 và ông L nhưng bị cáo cũng đóng vai trò tích cực, hành vi của bị cáo là đồng phạm trong việc gây thương tích cho ông A1 và ông L; gây mất trật tự, trị an tại địa phương; gây lo lắng trong quần chúng nhân dân.

Tuy nhiên bị cáo khi phạm tội và hiện nay là người chưa đủ 18 tuổi, nên được áp dụng các nguyên tắc về người chưa đủ 18 tuổi khi xét xử. Xét thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tại phiên tòa bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo để trở thành công dân có ích cho cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Tại phiên tòa bị hại ông Lê Huỳnh A1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

Tại phiên tòa bị hại ông Lương Đình L vắng mặt nhưng căn cứ vào các lời khai của ông L có tại hồ sơ vụ án thì ông L không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Trần Huy H1 vắng mặt nhưng căn cứ vào các lời khai của anh H1 có tại hồ sơ vụ án thì anh H1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường chi phí điều trị thương tích và không còn yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xét.

[6] Về vật chứng vụ án:

Vỏ chai bia và các mảnh vỡ chai bia dung quất không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về án phí: Bị cáo Lê Nhật T3, Lê Trần Nhật T2, Phan Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật, với số tiền mỗi bị cáo phải chịu là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

8

- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Lê Nhật T3.

Xử phạt bị cáo Lê Nhật T3 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Lê Trần Nhật T2.

Xử phạt bị cáo Lê Trần Nhật T2 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Căn cứ điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 90, 91, 101 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội đối với bị cáo Phan Văn P (tên gọi khác: Cu Rớt).

Xử phạt bị cáo Phan Văn P 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Về trách nhiệm dân sự:

Không xét về bồi thường thiệt hại do sức khỏe xâm phạm giữa bị cáo Lê Nhật T3, Lê Trần Nhật T2, Phan Văn P và ông Lê Huỳnh A1, ông Lương Đình L.

Không xét về bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Lê Nhật T3, Lê Trần Nhật T2, Phan Văn P và anh Trần Huy H1.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây: Vỏ chai bia và các mảnh vỡ chai bia dung quất theo biên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện V và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh.

Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 13 tháng 3 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện V với Chi cục thi hành án dân sự huyện Vạn Ninh.

4. Về án phí:

9

+ Bị cáo Lê Nhật T3 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

+ Bị cáo Lê Trần Nhật T2 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).

+ Bị cáo Phan Văn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND nhân dân huyện Vạn Ninh;
  • - Công an huyện Vạn Ninh;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS huyện Vạn Ninh;
  • - Lưu án văn, VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Hòa Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH, TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Lê Nhật Trường 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xử phạt bị cáo Lê Trần Nhật Trình 01 (một) năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Xử phạt bị cáo Phan Văn Phước 06 (sáu) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger