Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG ĐIỀN

TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày 16-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Hoàng Đức.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Di.

2. Ông Phạm Hồng Sơn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên L - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 23/2024/TLHS-ST ngày 28 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 3 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm nhân dân số 16/QĐ-TA ngày 15 tháng 4 năm 2024, đối với các bị cáo:

1. Đặng Tấn T, sinh năm: 1996, tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Số E đường M, khu phố B, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Tấn D, sinh năm: 1972 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1972 (chết); sống chung với Lâm Bích T1, sinh năm: 1998 (không đăng ký kết hôn) và có 01 con sinh năm: 2017;

Tiền án (có 02 tiền án):

  • - Bản án số 136/2017/HS-ST ngày 19-7-2017 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ngày 20-3-2020.
  • - Bản án số 68/2021/HS-ST ngày 23-3-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù, ngày 29-4-2022.

Tiền sự; nhân thân: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 09-10-2023 (có mặt).

2. Trương Minh N1, sinh năm: 1997 tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi cư trú: Tổ E, khu phố Ô, phường T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Không rõ và bà Trương Thị D1, sinh năm: 1976; có vợ Huỳnh Thanh T2, sinh năm: 1994 và 01 con sinh năm 2020; tiền án; tiền sự; nhân thân: Không.

Bị bắt, tạm giam ngày 09-10-2023 (có mặt).

Bị hại: Bà Nguyễn Thị D2, sinh năm 1977 (có mặt).

Địa chỉ: Tổ A, Ô, khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 04-10-2023, Đặng Tấn T rủ Trương Minh N1 đi cướp giật tài sản của người khác bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi, T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Future, biển số 64K1-270.68 chạy trước, còn N1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, biển số 72H1-187.80 theo sau trên Quốc lộ E từ khu phố Ô, phường T, thị xã P về thành phố V, rồi hướng về cầu C đi thị trấn L, huyện L. Đến khoảng 16 giờ 30 phút cùng ngày, khi đến đường T thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L thì phát hiện phía trước cùng chiều bà Nguyễn Thị D2 đang điều khiển xe mô tô biển số 72F1-196.92, trên cổ đeo 01 sợi dây chuyền vàng 18K có mặt dây chuyền bằng đá tròn, màu xanh ngọc. Lúc này, T vượt lên áp sát bên phải của bà D2 dùng tay phải giật lấy sợi dây chuyền cùng mặt dây chuyền rồi tăng ga bỏ chạy. Bị giật tài sản, bà D2 đuổi theo và truy hô nhưng không kịp. Sau khi cướp giật được tài sản, cả hai về phòng trọ của T tại khu phố Ô, phường T, thị xã P. Tại đây, T cho N1 1.000.000đ sau đó mang sợi dây chuyền cùng mặt dây chuyền cướp giật được đến bán cho một tiệm vàng ở Thành phố Hồ Chí Minh (không rõ địa chỉ) được 6.120.000đ và sử dụng hết.

Đến ngày 09-10-2023, bà D2 đến Công an thị trấn L, huyện L trình báo sự việc.

Qua truy xét và sử dụng biện pháp nghiệp vụ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L mời Đặng Tấn T và Trương Minh N1 đến làm việc.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Đặng Tấn T và Trương Minh N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Ngoài ra, T còn khai nhận trước đó thực hiện 02 vụ cướp giật tài sản trên địa bàn huyện L, cụ thể như sau:

Vào khoảng tháng 3-2023, T điều khiển xe mô tô biển số 64K1-270.68 chở đối tượng tên N2 (không rõ nhân thân, lai lịch) thực hiện 01 vụ cướp giật sợi dây chuyền của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, địa chỉ) khi đang điều khiển xe trên đường C thuộc khu phố H, thị trấn L và đến tháng 7-2023, một mình tiếp tục sử dụng xe mô tô biển số 64K1-270.68 thực hiện 01 vụ cướp giật sợi dây chuyền vàng của một người phụ nữ (không rõ nhân thân, địa chỉ) khi đang điều khiển xe trên tỉnh lộ 44A đoạn qua ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra thông báo truy tìm bị hại trong 02 vụ cướp giật tài sản nói trên, nhưng chưa có kết quả. Ngày 29-01-2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định số 369/QĐ-ĐCSHS-KTMT hành vi và tài liệu liên quan trong vụ án hình sự về việc tách hành vi cướp giật tài sản của Đặng Tấn T trong vụ cướp giật tài sản xảy ra vào tháng 3-2023 và tháng 7-2023 trên địa bàn huyện L.

Tại Kết luận định giá tài sản số 107/KL-HĐĐGTS ngày 30-11-2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận:

  • - 01 dây chuyền bằng vàng 18K, khối lượng 05 chỉ trị giá 18.800.000đ;
  • - 01 mặt dây chuyển hình tròn bằng vàng 18K, khối lượng 0,8 chỉ, ở giữa mặt dây chuyền hình tròn có đá trang trí cẩm thạnh màu xanh ngọc trị giá 3.208.000đ.

Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt 22.008.000đ.

Vật chứng thu giữ và xử lý:

  • - 01 chiếc quần Jean ống dài, màu đen; 01 chiếc áo sơ mi sọc caro, màu xám; 01 đôi dép, màu xám; 01 chiếc nón bảo hiểm nhãn hiệu Giro, màu đen (thu giữ của Đặng Tấn T); 01 chiếc quần tây, màu đen; 01 chiếc áo sơ mi, màu đen; 01 chiếc mũ lưỡi trai, màu trắng và 01 chiếc nón bảo hiểm màu xanh (thu giữ của Trương Minh N1) mà cả hai mặc khi thực hiện hành vi phạm tội. Hiện đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền bảo quản, chờ xử lý.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Mobell là tài sản của cá nhân T và N1, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại.
  • - 01 xe mô tô biển số 64K1-270.68, T sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội do ông Trần Minh T3, sinh năm 1972; nơi cư trú: Tổ C, ấp M, xã M, huyện B, tỉnh Vĩnh Long đứng tên giấy đăng ký xe, nhưng bị mất trộm tại khu vực bến xe M thuộc quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã thông báo cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận B, Thành phố Hồ Chí Minh để nhận vật chứng, thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.
  • - 01 xe mô tô biển số 72H1-187.80, N1 sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội do chị Nguyễn Thị Kim N3, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu, đứng tên giấy đăng ký xe. Năm 2018, chị N3 bán chiếc xe trên cho chị Huỳnh Thanh T2, sinh năm: 1994; nơi cư trú: Ấp Đ, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, nhưng không làm thủ tục mua bán. Ngày 04-10-2023, N1 tự ý sử dụng làm phương tiện phạm tội chị T2 không biết nên Cơ quan điều tra đã trao trả chiếc xe mô tô cho chủ sở hữu.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị D2 yêu cầu các bị cáo liên đới phải bồi thường giá trị tài sản bị chiếm đoạt với số tiền 22.008.00.000đ.

Đối với đối tượng mua sợi dây chuyền cùng mặt dây chuyền do T và N1 cướp giật được mà có, chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên chưa có cơ sở xem xét, xử lý. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đang tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với chị Huỳnh Thanh T2 không biết N1 tự ý lấy xe làm phương tiện phạm tội nên không có cơ sở xem xét, xử lý.

Tại Cáo trạng số 32/CT-VKSLĐ ngày 26-02-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo Đặng Tấn T và Trương Minh N1 về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.

Trong phần luận tội, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố, kiểm sát việc giải quyết vụ án tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố và phân tích về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, động cơ, mục đích phạm tội, hậu quả xảy ra và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như đặc điểm nhân của từng bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Tấn T và bị cáo Trương Minh N1 phạm tội “Cướp giật tài sản”.
  • Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đặng Tấn T từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù.
  • Áp dụng điểm d, khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trương Minh N1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
  • - Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 584, 585, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự ghi nhận bị cáo T tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bà Nguyễn Thị D2 với số tiền 22.008.000đ.
  • - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc quần Jean ống dài, 01 chiếc áo sơ mi sọc caro, 01 đôi dép, màu xám, 01 chiếc nón bảo hiểm nhãn hiệu Giro, 01 chiếc quần tây, 01 chiếc áo sơ mi, 01 chiếc mũ lưỡi trai và 01 chiếc nón bảo hiểm màu xanh.

Tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.

Bị cáo T tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại với số tiền 22.008.000đ.

Bị hại bà Nguyễn Thị D2 đồng ý theo yêu cầu của bị cáo T.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

[2] Về hành vi phạm tội và tội danh: Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định nội dung vụ án như sau: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04-10-2023 tại đoạn đường T thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Đặng Tấn T điều khiển xe mô tô biển số 64K1-270.68 và Trượng Minh N4 điều khiển xe mô tô biển số 72H1-187.80 áp sát bên phải xe mô tô biển số 72F1-196.92 do bà Nguyễn Thị D2 điều khiển cùng chiều phía trước cướp giật 01 sợi dây chuyền cùng một mặt dây chuyền bằng vàng 18K (Trọng trực tiếp dùng tay phải giật tài sản, N cảnh giới và cản đường) đang đeo trên cổ có tổng trị giá 22.008.000đ. Các bị cáo sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội nên hành vi của các bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo T có 02 tiền án về hành vi xâm phạm sở hữu “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 136/2017/HS-ST ngày 19-7-2017 và “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 68/2020-HS-ST ngày 23-3-2021 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội nên bị áp dụng thêm tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố.

[3] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi nêu trên của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ, hành vi của các bị cáo hết sức liều lĩnh bằng thủ đoạt nguy hiểm sử dụng xe mô tô áp sát người bị hại đang điều khiển xe mô tô lưu thông trên đường để cướp giật tài sản là bất chấp hậu quả xảy ra có thể nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của bị hại cũng như các bị cáo, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, an toàn xã hội tại địa phương và tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân nơi xảy ra tội phạm. Các bị cáo nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng không có ý thức tôn trọng pháp luật, lười lao động mà muốn có tiền tiêu xài nên bất chấp quy định của pháp luật, cố ý thực hiện tội phạm.

[4] Về vai trò đồng phạm: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm, nhưng không có sự cấu kết chặt chẻ, phân công nhiệm vụ cụ thể của từng người nên thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn. Do đó, khi lượng hình có xem xét đến vai trò, tính chất, mức độ phạm tội, hậu quả gây ra cũng như đặc điểm nhân thân của từng bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật để xem xét, quyết định hình phạt.

[4.1] Bị cáo T thực hiện hành vi phạm tội với vai trò là người chủ mưu, khởi xướng, lôi kéo bị cáo N4 tham gia và trực tiếp chiếm đoạt, bán tài sản chiếm đoạt được nên phải chịu mức hình phạt nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội.

[4.2] Bị cáo N4 tham gia với vai trò đồng phạm, không trực tiếp thực hiện việc chiếm đoạt tài sản, nhưng là người cảnh giới, cản trở sự truy xét của bị hại nên phải chịu mức hình phạt tương xứng nhẹ hơn so với T.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Từ những nhận định và phân tích nêu trên, cần phải xử phạt các bị cáo một mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm nói chung.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo T đồng ý bồi thường toàn bột thiệt hại cho bị hại và bị hại cũng đồng ý nên ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo T bồi thường cho bà Nguyễn Thị D2 22.008.000đ.

[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 chiếc quần Jean ống dài, 01 chiếc áo sơ mi sọc caro, 01 đôi dép, 01 chiếc nón bảo hiểm nhãn hiệu Giro, 01 chiếc quần

tây, 01 chiếc áo sơ mi, 01 chiếc mũ lưỡi trai và 01 chiếc nón bảo hiểm màu xanh là tài sản cá nhân của các bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, không có nhu cầu nhận lại và giá trị còn lại thấp nên tịch thu tiêu hủy.

[10] Về án phí sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu mỗi người 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo T phải chịu 22.008.000đ x 5% = 1.100.400đ (làm tròn 1.100.000đ) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn luật định.

Vì những lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Đặng Tấn T và bị cáo Trương Minh N1 phạm tội “Cướp giật tài sản”;
    1. Áp dụng điểm d, i khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự,

      Xử phạt: Bị cáo Đặng Tấn T 04 (bốn) năm 06 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09-10-2023.

    2. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự,

      Xử phạt: Bị cáo Trương Minh N1 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 09-10-2023.

  2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng các điều 357, 584, 585, 587, 589 và 468 của Bộ luật Dân sự.

    Buộc bị cáo Đặng Tấn T phải bồi thường cho bà Nguyễn Thị D2 22.008.000 (hai mươi hai triệu, không trăm tám nghìn) đồng.

    Kể từ ngày, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thực hiện nghĩa vụ trả tiền nêu trên thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải trả cho bên được thi hành án một khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

    Tịch thu tiêu hủy 01 (một) chiếc quần Jean ống dài, màu đen; 01 (một) chiếc áo sơ mi sọc caro, màu xám; 01 (một) đôi dép, màu xám; 01 (một) chiếc nón bảo hiểm nhãn hiệu Giro, màu đen; 01 (một) chiếc quần tây, màu đen; 01 (một) chiếc áo sơ mi, màu đen; 01 (một) mũ chiếc lưỡi trai, màu trắng và 01 (một) chiếc nón bảo hiểm màu xanh.

    (Vật chứng đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu bảo quản theo Biên bản giao nhận vật chứng số 41/BB.CCTHADS ngày 26-02-2024).

  4. Án phí sơ thẩm: Áp dụng Điều 135 và Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

    Buộc các bị cáo Đặng Tấn T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 1.100.000đ án phí dân sự sơ thẩm, tổng cộng phải nộp 1.300.000 (một triệu, ba trăm nghìn) đồng án phí sơ thẩm. Bị cáo Trương Minh N1 phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  5. Quyền kháng cáo: Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án, các bị cáo và bị hại có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
  6. “Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự”./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, đương sự;
  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - PV06, PC10 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND huyện Long Điền;
  • - Công an huyện Long Điền;
  • - CCTHA dân sự huyện Long Điền;
  • - UBND xã/phường nơi bị cáo cư trú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Võ Hoàng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về cướp giật tài sản

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 16 giờ 30 phút, ngày 04-10-2023 tại đoạn đường T thuộc khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Đặng Tấn T điều khiển xe mô tô biển số 64K1-270.xx và Trượng Minh N điều khiển xe mô tô biển số 72H1-187.xx áp sát bên phải xe mô tô biển số 72F1-196.xx do bà Nguyễn Thị D điều khiển cùng chiều phía trước cướp giật 01 sợi dây chuyền cùng một mặt dây chuyền bằng vàng 18K (T trực tiếp dùng tay phải giật tài sản, N cảnh giới và cản đường) đang đeo trên cổ có tổng trị giá 22.008.000đ. Các bị cáo sử dụng xe mô tô là nguồn nguy hiểm cao độ làm phương tiện phạm tội nên hành vi của các bị cáo đã đủ dấu hiệu cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger