|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ TỈNH YÊN BÁI Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 11-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lý;
Ông Hoàng Văn Vĩnh.
Thư ký phiên toà: Ông Hờ A Say - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thu Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Hoàng Văn T, sinh ngày 04/5/1998 tại thị xã N, tỉnh Y; nơi cư trú bản T, xã H, thị xã N, tỉnh Y; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) 9/12; dân tộc Thái; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Hoàng Văn H, sinh năm 1978 và bà Lò Thị Q, sinh năm 1977; vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự không; bị tạm giữ từ ngày 14 tháng 5 năm 2024, tạm giam từ ngày 20 tháng 5 năm 2024; "Có mặt".
- Người tham gia tố tụng khác
+ Người làm chứng:
Đồng Văn S, sinh năm 1983; nơi cư trú tổ bản L, phường T, thị xã N, tỉnh Y; "Vắng mặt".
Lò Văn C, sinh năm 1999; nơi cư trú bản T, xã H, thị xã N, tỉnh Y; "Vắng mặt".
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng giữa tháng 4/2024, Hoàng Văn T đi bộ đến khu vực thôn Nậm Đông 1, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ; T gặp một người đàn ông không quen biết, khoảng 40 tuổi, mua được của người này 01 gói Heroine, với giá 600.000 đồng. T mang về nhà chia Heroine thành nhiều gói nhỏ, gói bằng giấy màu trắng có dòng kẻ; T không kiểm đếm nên không biết chia được bao nhiêu gói. T đã sử dụng và tại khu vực đầu cầu bê tông trước cửa nhà T thuộc bản T, xã H, thị xã N; Hoàng Văn T đã nhiều lần bán Heroine, cụ thể các lần bán như sau.
- - Trưa khoảng ngày 24/4/2024 Hoàng Văn T bán cho Lò Văn C 01 gói Heroine, với giá 80.000 đồng.
- - Trưa ngày 07/5/2024 Hoàng Văn T tiếp tục bán cho Lò Văn C 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng.
- - Khoảng 13 giờ ngày 10/5/2024 Hoàng Văn T bán cho Đồng Văn S 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng.
- - Khoảng 13 giờ ngày 12/5/2024, Hoàng Văn T lại bán cho Đồng Văn S 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng.
- - Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 13/5/2024, Hoàng Văn T lại tiếp tục bán cho Đồng Văn S 02 gói Heroine, với giá 200.000 đồng.
- - Khoảng 10 giờ ngày 14/5/2024, khi Hoàng Văn T đang ở nhà thì Đồng Văn S gọi điện đến hỏi mua 01 gói Heroine, T đồng ý bán và bảo S đến nơi hẹn của những lần bán ma tuý trước. S đi nhờ xe mô tô của một người đi đường không quen biết đến gặp T; khi T và S chuẩn bị mua bán ma tuý thì bị Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma tuý Công an tỉnh Yên Bái phát hiện, bắt quả tang; thu giữ trong túi quần đùi bên phải T đang mặc 02 gói giấy màu trắng, có dòng kẻ, bên trong đều chứa chất bột nén màu trắng, T khai là Heroine chuẩn bị bán cho Đồng Văn S.
* Tại bản Kết luận giám định số 287/KL-KTHS ngày 21/5/2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
“Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn T có tổng khối lượng là 0,1 gam (không phẩy một gam); 0,1 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
Bản cáo trạng số: 33/CT-VKS-NL ngày 20 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ đã truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi mua bán ma túy mà bị cáo đã thực hiện lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của Lò Văn C và Đồng Văn S về thời gian, địa điểm, số lần, số tiền đã mua ma túy của T.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn T từ 08 (tám) năm đến 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù.
- Vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- + Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong; 02 (hai) mảnh giấy màu trắng, có dòng kẻ;
- + Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của Hoàng Văn T 580.000 đồng (năm trăm tám mươi nghìn đồng);
- + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, loại bàn phím bấm, màn hình màu, mặt trước có ghi chữ ACE.
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Yên Bái, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghĩa Lộ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp biên bản phạm tội quả tang, lời khai của người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Do là người nghiện, nên Hoàng Văn T đã mua ma túy, loại Heroine về sử dụng và bán lại kiếm lời; tại khu vực đầu cầu bê tông trước cửa nhà Hoàng Văn T thuộc bản T, xã H, thị xã N; Hoàng Văn T đã nhiều lần bán Heroine, cụ thể các lần bán như sau.
Lần thứ nhất: Trưa khoảng ngày 24/4/2024 Hoàng Văn T bán cho Lò Văn C 01 gói Heroine, với giá 80.000 đồng.
Lần thứ hai: Trưa ngày 07/5/2024 Hoàng Văn T tiếp tục bán cho Lò Văn C 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng.
Lần thứ ba: Khoảng 13 giờ ngày 10/5/2024 Hoàng Văn T bán cho Đồng Văn S 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng.
Lần thứ tư: Khoảng 13 giờ ngày 12/5/2024 Hoàng Văn T lại bán cho Đồng Văn S 01 gói Heroine, với giá 100.000 đồng.
Lần thứ năm: Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 13/5/2024, Hoàng Văn T lại tiếp tục bán cho Đồng Văn S 02 gói Heroine, với giá 200.000 đồng.
Lần thứ sáu: Khoảng 10 giờ ngày 14/5/2024, khi Hoàng Văn T đang chuẩn bị bán Heroine cho Đồng Văn S thì bị bắt quả tang, tại khu vực đầu cầu bê tông trước cửa nhà Hoàng Văn T thuộc bản T, xã H, thị xã N.
Tổng số tiền T bán ma túy thu được là 580.000 đồng; khối lượng ma túy, loại Heroine thu giữ khi bắt quả tang Hoàng Văn T là 0,1 gam.
Bị cáo Hoàng Văn T là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ việc mua bán trái phép Heroine (ma túy) là vi phạm pháp luật hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy bất hợp pháp của bản thân và thu lời bất chính.
Hành vi mua bán trái phép chất ma túy mà bị cáo T thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng, lan tràn tình trạng nghiện chất ma túy; ảnh hưởng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại trật tự an toàn xã hội.
[3] Từ ngày 24/4/2024 đến ngày 14/5/2024 Hoàng Văn Trang đã 06 lần bán Heroine cho cho Lò Văn C và Đồng Văn S, nên Hoàng Văn T phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là phạm tội 02 lần trở lên.
[4] Từ những căn cứ trên đã có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Hoàng Văn T thực hiện đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy" tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[5] Nhân thân: Bị cáo Hoàng Văn T là người nghiện ma túy, nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu.
[6] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị bắt T đã chủ động khai ra hành vi bán ma túy cho C và S; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r và điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[7] Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo T gây ra cho xã hội là rất lớn; nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[8] Hình phạt bổ sung: Bị cáo T ở cùng bố mẹ, không có tài sản riêng, nên không áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[9] Vật chứng:
- - Đối với: 0,1 gam (không phảy một gam) Heroine Cơ quan điều tra đã sử dụng làm giám định hết, nên không đặt ra để giải quyết.
- - Từ ngày 24/4/2024 đến ngày 14/5/2024 Hoàng Văn T đã bán Heroine cho Lò Văn C và Đồng Văn S, thu được 580.000 đồng, T đã tiêu sài cá nhân hết, nên cần căn cứ điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để truy thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- - 01 điện thoại di động, loại bàn phím bấm, màn hình màu, mặt trước có ghi chữ ACE, thu giữ của Hoàng Văn T. Đây là phương tiện T sử dụng liên lạc để bán ma túy, nên cần căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong, đây là vật Cơ quan Công an đã dùng để niêm phong vật chứng, không có giá trị sử dụng, nên tiêu huỷ theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- - 02 mảnh giấy màu trắng có dòng kẻ, bị cáo sử dụng để làm công cụ phạm tội, nên tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Án phí và các vấn đề khác:
Bị cáo T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Đối với Lò Văn C và Đồng Văn S là những người nghiện chất ma tuý đã nhiều lần mua Heroine của bị cáo T để sử dụng và đã sử dụng hết, không xác định được khối lượng. Vì vậy, Công an thị xã Nghĩa Lộ đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Lò Văn C và Đồng Văn S về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” là đúng quy định của pháp luật, nên chấp nhận.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo T tại khu vực thôn Nậm Đông 1, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ. Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này nên Cơ quan điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ không đủ căn cứ xác minh, làm rõ để xử lý.
Đối với Hà Văn Đ, ngày 13/5/2024 Đ được S thuê chở đến gặp T, do Đ không biết việc S và T hẹn nhau mua bán ma túy, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ không đề nghị xử lý đối với Đ là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm r, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 08 (tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, là ngày 14/5/2024.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) vỏ phong bì đã mở niêm phong; 02 (hai) mảnh giấy màu trắng, có dòng kẻ;
- - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước của Hoàng Văn T 580.000 đồng (năm trăm tám mươi nghìn đồng);
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, loại bàn phím bấm, màn hình màu, mặt trước có ghi chữ ACE.
(đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Nghĩa Lộ và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Nghĩa Lộ)
4. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Hoàng Văn T có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận việc thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHĨA LỘ, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Do là người nghiện, nên Hoàng Văn T đã mua ma túy, loại Heroine về sử dụng và bán lại kiếm lời; tại khu vực đầu cầu bê tông trước cửa nhà Hoàng Văn T thuộc bản T, xã H, thị xã N; Hoàng Văn T đã nhiều lần bán Heroine.
