Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ AN NHƠN

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Bản án số: 37/2024/HS-ST

Ngày: 11 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Ngọc Quang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Anh Dũng

Ông Hồ Xuân Dũng

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đình Dân – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Tuấn - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã An Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 1034/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024, đối với:

  1. Bị cáo: Phan Viết V sinh ngày 28 tháng 02 năm 1993 tại thị xã A, tỉnh Bình Định; nơi cư trú: Số nhà E N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Viết C sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Hồng Thủy s năm 1966; vợ Đinh Hồ Lệ K sinh năm 1993; có 02 người con lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” từ ngày 04/3/2024 đến nay. Bị cáo có mặt.

  2. Bị hại: Anh Trương Đình T sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn T, xã H, thị xã H, tỉnh Bình Định, vắng mặt

  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Hồng Thủy s năm 1966; nơi cư trú: Số nhà E N, phường B, thị xã A, tỉnh Bình Định, có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 07/01/2024, Trương Đình T ở thôn T, xã H, thị xã H nhập viện tại Khoa Ngoại Trung tâm y tế thị xã A. Quá trình điều trị tại đây, Thích gặp gỡ và quen Phan Viết V. Vì nhiều lần nhờ được V mua đồ ăn và giặt đồ giúp nên cả hai trở nên thân thiết và có sự tin tưởng lẫn nhau. Do V đăng ký tài khoản ngân hàng V1, số tài khoản 1029664185 nhưng không có thẻ ATM nên V trao đổi với T sẽ sử dụng dịch vụ Internet Banking chuyển tiền đến số tài khoản 040106231992 mở tại ngân hàng S của Trương Đình T rồi Thích sẽ đưa tiền mặt cho V. Ngày 10/01/2024, V 04 (bốn) lần chuyển vào tài khoản của T tổng số tiền 1.150.000 đồng nhưng vì điện thoại bị hư, Thích mượn điện thoại của bạn gái sử dụng nên không nhận được thông báo biến động số dư trong tài khoản. Do đó, mỗi lần V chuyển tiền xong đều đưa thông báo chuyển tiền thành công từ điện thoại của V cho T xem rồi Thích mới đưa tiền mặt cho V.

Ngày 12/01/2024, Thích hết tiền mặt để sử dụng nên dưa thẻ ATM của T cho Vũ nhờ V đi rút giúp số tiền 1.150.000 đồng có trong tài khoản của T. V cầm lấy thẻ ATM của T đến trụ ATM ngân hàng V2 ở khu vực A, phường N, thị xã A đăng nhập bằng mã pin do T đưa và rút số tiền 1.150.000 đồng cho T. Sau khi rút tiền xong, V mua đồ ăn và đưa lại tiền, thẻ ATM cho T. Lúc này, tài Khoản của T đã hết tiền (chỉ còn tiền duy trì thẻ ngân hàng) nên T đã mượn của Lê Thanh H, sinh năm 2001, ở phường H, thị xã H, tỉnh Bình Định số tiền 6.800.000 đồng và được H chuyển khoản vào số tài khoản 040106231992 của Thích.

Sáng ngày 15/01/2024, V liên hệ một người bạn tên Vũ Trọng T1 ở thành phố Q (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch) qua ứng dụng Zalo (không nhớ số điện thoại) mượn số tiền 1.500.000 đồng và nhắn số tài khoản 040106231992 của T cho T1 để T1 chuyển khoản vào tài khoản này thì T1 đồng ý. Khoảng hơn 01 tiếng sau, Vũ mượn thẻ ATM ngân hàng của T để kiểm tra xem số tiền 1.500.000 đồng T1 đã chuyển cho V chưa thì T đồng ý, đưa thẻ ATM và cung cấp mật khẩu đăng nhập; đồng thời, nói với V trong tài khoản hiện có số tiền 6.800.000 đồng của T để V biết và kiểm tra xem số tiền bạn V đã chuyển. Sau khi đến trụ ATM ngân hàng V2 ở khu vực A, phường N, thị xã A, V kiểm tra tài khoản thì thấy T1 chưa gửi số tiền 1.500.000 đồng mà chỉ có số tiền 6.800.000 đồng của T. Lúc này, vì cần tiền trả nợ, tiêu xài cá nhân và biết T không nhận được thông báo biến động số dư qua điện thoại, V đã nảy sinh ý thức chiếm đoạt số tiền trên. V đã thực hiện 02 lần rút với tổng số tiền 3.000.000 đồng rồi sử dụng để trả nợ cho một người tên L (hiện không xác định rõ nhân thân lại lịch) 1.000.000 đồng, còn lại 2.000.000 đồng V sử dụng để nạp card chơi game và tiêu xài cá nhân.

Sau đó, V trở lại bệnh viện và nói với T chưa rút được tiền nên tiếp tục mượn thẻ ATM thì T đồng ý. Sáng ngày 16/01/2024, V tiếp tục đến trụ ATM ngân hàng V2 ở khu V, phường N, thị xã A rút 03 lần với tổng số tiền 3.800.000 đồng từ tài khoản của T và sử dụng tiêu xài cá nhân. Sáng cùng ngày, T được xuất viện nên gọi cho V và yêu cầu V trả thẻ ATM thì được Vũ hẹn gặp tại ngã tư thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định để trả thẻ. Sau khi nhận được thẻ ATM, T đến ngân hàng để rút tiền thì phát hiện số tiền 6.800.000 đồng đã bị rút hết. Nghi ngờ V chiếm đoạt số tiền trên, T đã gọi điện cho V nhưng không liên lạc được nên đã trình báo sự việc đến Cơ quan Công an.

* Về trách nhiệm dân sự: Đã giải quyết xong.

* Vật chứng, tài liệu đồ vật thu giữ của vụ án: Không.

Tại bản Cáo trạng số 32/CT-VKSAN ngày 16 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn đã truy tố bị cáo Phan Viết V về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, I, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Phan Viết V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Phan Viết V từ 03 tháng đến 06 tháng tù.

- Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, miễn xét.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội phù hợp với nội dung bản cáo trạng, tỏ ra ăn hăn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã An Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định đó. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo Phan Viết V khai nhận: Bị cáo và Trương Đình T quen biết với nhau khi cả hai điều trị tại Trung tâm y tế thị xã A. Ngày 12/01/2024, Thích hết tiền mặt để sử dụng nên đưa thẻ ATM của T cho bị cáo V nhờ V đi rút tiền. Sáng ngày 15/01/2024, bị cáo V liên hệ bạn Võ Trọng T2 qua ứng dựng Z để mượn số tiền 1.500.000đ và nhắn số tài khoản của T cho T2 để chuyển tiền vào tài khoản của T. Khoảng hơn 01 giờ sau, Vũ mượn thẻ ATM của T để kiểm tra xem T2 đã chuyển tiền cho V chưa thì T đồng ý và đưa thẻ ATM và cung cấp mật khẩu đăng nhập đồng thời T nói với V trong tài khoản hiện có số tiền 6.800.000₫ của T để V biết và kiểm tra số tiền bạn của V đã chuyển. Sau khi bị cáo V đến trụ ATM Ngân hàng V2 ở khu vực A, phường N, thị xã A kiểm tra tài khoản thì thấy T2 chưa chuyển số tiền 1.500.000đ mà chỉ có số tiền 6.800.000đ của T. Lúc này, vì cần tiền trả nợ, tiêu xài cá nhân và biết T không nhận được thông báo biến động số tiền qua điện thoại do điện thoại của T bị hư phải sử dụng điện thoại bạn gái nên bị cáo V đã nảy sinh ý thức chiếm đoạt tiền của T. Bị cáo đã thực hiện 02 lần rút tổng số tiền 3.000.000đ để trả nợ và sử dụng cá nhân. Sau đó, bị cáo V trở lại bệnh viện gặp T và nói chưa rút được tiền nên tiếp tục mượn thẻ ATM thì T đồng ý. Sáng ngày 16/01/2024, bị cáo V tiếp tục đến trụ ATM Ngân hàng V2 ở Khu V, phường N, thị xã A rút 03 lần tổng số tiền 3.800.000đ từ tài khoản của T để sử dụng cá nhân. Sáng cùng ngày, T được xuất viện nên gọi điện thoại cho bị cáo V trả thẻ ATM thì bị cáo Vũ hẹn gặp tại ngã tư thị trấn T, huyện T, tỉnh Bình Định để trả thẻ. Sau khi nhận được thẻ ATM, T đến ngân hàng để rút tiền thì phát hiện số tiền 6.800.000đ trong tài khoản đã bị rút hết, nghi ngờ bị cáo chiếm đoạt, Thích gọi điện thoại cho bị cáo V không liên lạc được nên trình báo sự việc đến công an.

[3] Xét hành vi và tính chất của vụ án, thấy rằng: Lời khai nhận hành vi của bị cáo Phan Viết V phù hợp với lời khai bị hại, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Phan Viết V khi thực hiện hành vi chiếm đoạt 6.800.000₫ của anh Trương Đình T thì bị cáo đã trưởng thành, có đủ năng lực hành vi, nhận thức được số tiền bị cáo rút được từ thẻ ATM để tiêu xài cá nhân không phải tiền của bị cáo, số tiền bị cáo chiếm đoạt được là do sự tín nhiệm vì sự tin tưởng của bị hại đã giao tài sản cho bị cáo, bị cáo đã nảy sinh ý thức chiếm đoạt tài sản rồi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Phan Viết V đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 của Bộ luật hình sự.

[4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo Phan Viết V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Phan Viết V đã tự nguyện bồi thường thiệt hại khắc phục hậu quả, bị hại có đơn bãi nại và xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bị cáo; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có 02 người con còn ở tuổi chưa thành niên bị cáo đã thực hiện nghĩa vụ quân sự năm 2012-2014 là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo Phan Viết V không có tiền án, tiền sự có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo cũng đủ răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo.

[5] Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Mẹ bị cáo Nguyễn Thị Hồng T3 và bị hại đã thỏa thuận bồi thường thiệt hại xong, bị hại và bà T3 không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên nên miễn xét.

[6] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phan Viết V phải chịu 200.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào các Điều 135, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật tố Tụng hình sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Viết V phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phan Viết V 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  3. Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và bị hại đã tự giải quyết xong. Họ không có yêu cầu gì đối với bị cáo nên miễn xét.

  4. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Phan Viết V phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng)

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niên yết bản án theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Nơi nhận:

  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Định;
  • - TAND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND tỉnh Bình Định;
  • - VKSND TX. An Nhơn;
  • - Chi cục THADS thị xã An Nhơn;
  • - Công an TX. An Nhơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an thị xã An Nhơn
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
 

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Ngọc Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ AN NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phan Viết Vũ phạm tội "Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger