Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 37/2024/HS-ST.

Ngày: 09 - 7 - 2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hữu Thành.
  2. Ông Trần Văn Cường.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Văn T; giới tính: Nam, sinh ngày: 05/11/1982, tại: tỉnh TT – Huế. Số căn cước công dân: [...], ngày cấp 11/08/2021. Nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội;Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn T1 và con bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa có; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giam ngày 19/02/2024 tại Trại tạm giam công an tỉnh T. Bị cáo có mặt.

- Bị hại: Ông Phan Văn T1, sinh năm 1946. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Văn P, sinh năm 1964. Địa chỉ: Tổ A, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Ông Phan Văn H, sinh năm 1964. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  2. Anh Phan Văn Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: Thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  3. Anh Phan Văn T2, sinh năm 1990. Địa chỉ: Tổ B, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  4. Anh La P1, sinh năm 1991. Địa chỉ: Thôn P, xã V, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  5. Anh Phạm C, sinh năm 1985. Địa chỉ: Số A đường P, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.
  6. Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1996. Địa chỉ: Thôn T, xã D, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt.
  7. Bà nguyễn Thị L1 sinh năm 1954. Địa chỉ: Tổ B, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Bản Cáo trạng số: 33/CT-VKS-Hth, ngày 08 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Phan Văn T về hành vi phạm tội:

Chiều ngày 21/02/2023, Phan Văn T đến nhà thờ họ P2, ở tại thôn T, xã T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; gặp ông Phan Văn T1, là cha ruột của T, mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát: 75G1-261.29 của ông T1 để đi làm; nghe vậy, ông T1 đồng ý và yêu cầu T phải đưa xe về trả trước ngày 6 hàng tháng để ông T1 đi nhận tiền lương hưu, T đồng ý. Ông T1 giao xe mô tô và giấy đăng ký xe cho T, T sử dụng xe này đi lại trong hai ngày. Đến ngày 23/02/2024, T nảy sinh ý định mang xe mô tô biển kiểm soát: 75G1-261.29 đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. T điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ hiệu “347” của anh Ngô Văn ở tại C N, phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế, cầm cố được số tiền 8.000.000 đồng; sau đó tiêu xài hết.

Đến ngày thoả thuận nói trên (ngày 6 hàng tháng), ông T1 thấy T không trả xe nên đã nhiều lần điện thoại và đi tìm T để lấy xe nhưng không liên lạc và gặp được T.

Đến ngày 19/5/2023, T đến nhà thờ gặp ông T1 để xin tiền nhưng ông T1 không cho, nên T đã dùng bình trà ném làm hư hỏng màn hình tivi hiệu Sony của ông T1. Sau đó, ông T1 đã viết đơn trình báo đến Cơ quan Công an về hành vi chiếm đoạt tài sản nói trên.

Vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát: 75G1-261.29, 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 75G1-261.29; 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phan Văn T; 01 tivi Sony màu đen, 32 Model KDL – 32W600D bị vỡ màn hình; 01 bình trà màu trắng có bầu tròn đường kính 12cm, phần quai bị vỡ và phần đầu vòi rót nước bị vỡ; 01 hợp đồng thế chấp tài sản đề ngày 23/02/2023, 01 giấy thanh lý xe đề ngày 23/5/2023, 02 hợp đồng mua bán xe đề ngày 16/6/2023 lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Hiện Cơ quan điều tra đã trả xe mô tô biển kiểm soát: 75G1-261.29 và giấy chứng nhận đăng ký xe cho chủ sở hữu. Chuyển vật chứng là tivi S1 và bình trà màu trắng cho Công an xã T xử lý theo quy định.

Tại bản kết luận định giá số: 60/KL-HĐĐGTS ngày 21/7/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã H, kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Blade biển kiểm soát: 75G1-261.29, giá trị 12.500.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá số: 62/KL-HĐĐGTS ngày 26/7/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND thị xã H, kết luận: Tivi Sony màu đen, 32 Model KDL – 32W600D, bị hư hỏng thiệt hại trị giá là 1.500.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Ông T1 đã nhận lại tài sản (xe mô tô) và không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại gì về dân sự. Ông Ngô Văn P yêu cầu T phải bồi thường số tiền 8.000.000 đồng, T đã tác động ông T1 bồi thường cho anh P số tiền trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản Cáo trạng đối với bị cáo. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự, Đề nghị xử phạt bị cáo Phan Văn T 04 (Bốn) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù, trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa; không xem xét về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng và án phí theo quy định pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Do có nhu cầu sử dụng xe để đi làm. Ngày 21/02/2023, tại phường T, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; Phan Văn T đã mượn xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade biển kiểm soát: 75G1-261.29 của ông Phan Văn T1 để đi làm. Sau khi mượn được xe của ông T1, T đã sử dụng đến ngày 21/02/2023 thì nẩy sinh chiếm đoạt xe của ông T1. T điều khiển xe mô tô đến tiệm cầm đồ hiệu “347” của anh Ngô Văn P cầm cố với số tiền 8.000.000 đồng; sau đó tiêu xài hết. Giá trị tài sản mà bị cáo chiếm đoạt là 12.500.000 đồng (Mười hai triệu năm trăm nghìn đồng). Do đó, bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn trên là chính xác, đúng quy định pháp luật.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi bị cáo gây ra phạm vào khung hình phạt ít nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được Nhà nước bảo vệ, làm ảnh hưởng đến trật tự an ninh trong xã hội. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội. Nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi của mình gây ra, để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, xét cho bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tác động gia đình bồi thường thiệt hại; khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử, xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, thời gian tạm giam cũng đủ cho bị cáo suy nghĩ thay đổi và khắc phục những sai lầm nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự xử dưới khung hình phạt và xử phạt bị cáo thời hạn tù bằng thời hạn tạm giam như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa, cũng đủ để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Văn T1 đã nhận lại tài sản (xe mô tô) và không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại gì về dân sự. Ông Ngô Văn P đã nhận đủ số tiền 8.000.000 đồng, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Blade, biển kiểm soát: 75G1-261.29 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 75G1-261.29 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân mang tên Phan Văn T là giấy tờ hợp pháp của bị cáo Phan Văn T nên cần trả lại cho bị cáo.

Đối với 01 tivi Sony màu đen, 32 Model KDL – 32W600D bị vỡ màn hình; 01 bình trà màu trắng có bầu tròn đường kính 12cm, phần quai bị vỡ và phần đầu vòi rót nước bị vỡ đã chuyển cho Công an xã T xử lý theo quy định nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với 01 hợp đồng thế chấp tài sản đề ngày 23/02/2023, 01 giấy thanh lý xe đề ngày 23/5/2023, 02 hợp đồng mua bán xe đề ngày 16/6/2023 là chứng cứ của vụ án nên cần tiếp tục lưu giữ trong hồ sơ vụ án.

Đối với hành vi cố ý làm hư hỏng tài sản của Phan Văn T, do tài sản bị thiệt hại dưới 2.000.000 đồng, T chưa có tiền án, tiền sự về hành vi này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã H chuyển cho cơ quan có thẩm quyền xử lý là đúng quy định của pháp luật.

[6] Về án phí: Buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự; Tuyên bố bị cáo Phan Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 04 (Bốn) tháng 22 (Hai mươi hai) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 19/02/2024.
  3. Thời hạn phạt tù bằng thời gian bị cáo đã bị tạm giam. Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự, tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Phan Văn T đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

  4. Về trách nhiệm dân sự: Ông Phan Văn T1 đã nhận lại tài sản (xe mô tô) và không yêu cầu T phải bồi thường thiệt hại gì về dân sự. Ông Ngô Văn P đã nhận đủ số tiền 8.000.000 đồng, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  5. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Phan Văn T 01 giấy chứng minh nhân dân số [...] mang tên Phan Văn T.
  6. Hiện vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã H, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/07/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã H và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy.

  7. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phan Văn T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án phần liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - Sở Tư pháp tỉnh TTHuế;
  • - Phòng PV 06 CA tỉnh TT Huế;
  • - CQ ĐT thị xã Hương Thủy;
  • - VKSND thị xã Hương Thủy;
  • - CQ Thi hành án dân sự Hương Thủy;
  • - CQ Thi hành án hình sự Hương Thủy;
  • - Bị cáo; bị hại;
  • - Người có QL&NVLQ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Quý Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 37/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠNG THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo Phan Văn T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger