|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG Bản án số: 37/2024/HS-ST Ngày: 09/7/2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thành Luân.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Văn Hiển.
2. Bà Nguyễn Thị Sinh.
Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Tiến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Hậu – Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 26/6/2024 đối với các bị cáo:
1. TRẦN HỮU DỰ, tên gọi khác: không; sinh năm 2000, tại Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu B, sinh năm 1969, con bà: Lê Thị C, sinh năm 1972, hiện cư trú tại: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; vợ con: chưa có; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con út trong gia đình; tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam ngày 11/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
2. PHẠM ĐÌNH CHÁNH, tên gọi khác: không, sinh năm 2001, tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Thôn K, xã K, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Thợ sửa xe; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình C1, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Kim A, sinh năm 1965; vợ, con: chưa có; gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con út trong gia đình; tiền án; tiền sự: không Bị bắt tạm giam ngày 25/3/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
3. LÊ NGỌC QUỲNH, tên gọi khác: không; sinh năm 2004, tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Chỗ ở: Thôn Q, xã Q, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T, sinh năm 1976, con bà Phùng Thị C2, sinh năm 1981; vợ con: chưa có; gia đình có 02 anh em bị cáo là con đầu trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 11/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
4. NGUYỄN ĐỨC TUẤN, sinh năm 2004, tên gọi khác: không, tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Thôn Đ, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; tình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Khắc T1, sinh năm 1980; con bà Vũ Thị H, sinh năm 1981; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Tiền án, tiền sự: không; Bị bắt tạm giam ngày 11/12/2023, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
5. NGUYỄN XUÂN TÙNG, tên gọi khác: Không, sinh năm 2005, tại Lâm Đồng; Nơi đăng ký thường trú: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; chỗ ở: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: lao động tự do; Học vấn: 7/12 dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1957 và bà Nguyễn Thị Lương T2, sinh năm 1965; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con đầu trong gia đình: tiền án, tiền sự: không. Bị bắt tạm giam ngày 30/4/2024, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ.
2.1. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phan Ngọc S, sinh năm 1999; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
- Ông Nguyễn Đức Đại T3, sinh năm 1998; địa chỉ: Số E, đường H, tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
- Ông Phạm Văn H2, sinh năm 1981; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
2.2. Người làm chứng
- Ông Phạm Duy A1, sinh năm 2005; địa chỉ: Thôn S, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
- Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 2004; địa chỉ: Thôn S, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng;
- Ông Phạm Minh T4, sinh năm 2005; địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Phạm Văn H2 và người làm chứng ông Phạm Minh T4 có mặt tại phiên tòa; những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng khác vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ ngày 30/9/2023 Trần Hữu D1, Lê Ngọc Q, Nguyễn Đức T5, Phạm Đình C3 cùng một số người bạn đang ngồi nhậu tại quán S1 tại Tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ. Một lúc sau thì nhóm anh Phan Ngọc S, anh Nguyễn Đức Đại T3, anh Phạm Duy A1 và chị Nguyễn Thị Mỹ D đến ngồi nhậu ở bàn phía ngoài sảnh của quán. Do có quen biết từ trước nên Trần Hữu D1 đi đến bàn của T3 đang ngồi để mời bia rượu. Khi quay về bàn của mình, D1 nói với Chánh lúc sang mời bia rượu thì thái độ của T3 và S không tốt, lúc về sẽ qua xem thái độ của T3 và S như thế nào thì Chánh cũng đồng ý. Do có ý định đánh nhóm của T3 nên D1 gọi điện cho Nguyễn Xuân T6 đề nghị đến tham gia thì T6 cũng đồng ý đến quán S1 và mang theo 01 con dao rựa dài khoảng 1m, cán bằng gỗ. Đến khoảng 22 giờ 30 phút, nhóm của D1 nhậu xong, lúc ra về Dự đi đến bàn của T3 để rủ chị Nguyễn Thị Mỹ D về thì T3 nói “Tí nữa tụi tao chở D về” nên giữa D1 và T3 xảy ra cãi nhau. Lúc này, C3 nói với Q và T5 về việc trước đó Dự mời bia thái độ của T3, S có thái độ khiêu khích nên vào xem như thế nào. Chánh cùng Q và T5 cùng đi vào, thấy D1 và T3 đang cãi nhau nên T5 cầm ly bia trên bàn ném vào người T3, còn D1 thì dùng tay và ghế gỗ để đánh S, Q, T5, C3 cũng tham gia dùng ghế gỗ ném vào nhóm của S. Lúc này, T6 đi vào cùng với cây dao rựa đã chuẩn bị từ trước, định tham gia đánh nhau cùng nhóm của D1 nhưng thấy D là người quen nên không tham gia nữa mà đi ra ngoài. Được D can ngăn nên hai bên ngừng đánh nhau, nhóm của D1 đi ra trước sân quán thì C3 giật lấy cây dao rựa trên tay T6 tiếp tục lao vào đe dọa nhóm của T3 còn T5 thì nhặt 02 vỏ chai bia trước quán ném vào nhóm của T3. Hậu quả: S bị thương tích ở đầu và vai, T3 bị xây xát nhẹ.
Tại bản kết luận giám định số: 591/23-KLTTCT-PYLĐ ngày 13/01/2023 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh L kết luận tỷ lệ thương tích của Phan Ngọc S là 9%, tổn thương do vật tày có cạnh gây nên.
Vật chứng thu giữ được gồm có: 01 dao rựa dài 104 cm, cán gỗ hình trụ dài 75 cm đường kính 2,5cm, lưỡi bằng kim loại rộng 5,3cm, đầu bằng, bờ sắc; 01 thẻ nhớ dung lượng 04 Gigabyte, bên trong 02 đoạn video ghi lại diễn biến sự việc đánh nhau tại quán S1.
Các bị cáo Trần Hữu D1, Lê Ngọc Q và Nguyễn Đức T5 đã bồi thường cho anh Phan Ngọc S 30.000.000đ. Ngoài ra, các bị cáo còn làm hư hỏng 02 ly thủy tinh và 02 vỏ chai bia của quán S1; anh Phan Ngọc S và ông Phạm Văn H2 là chủ quán S1 không có yêu cầu gì đối với các bị cáo.
Tại bản Cáo trạng số 36/CT-VKSĐD ngày 24/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố các bị cáo về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã gây ra, không thắc mắc hay khiếu nại gì về nội dung vụ án, thừa nhận các hành vi cụ thể như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã nêu là đúng.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương giữ quyền công tố luận tội với nội dung tóm tắt như sau: Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng trong quá trình điều tra, tại phiên tòa cũng không có gì thay đổi. Do đó, Đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”;
Về hình phạt:
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hữu D1 từ 24 đến 30 tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Đình C3 24 đến 30 tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Ngọc Q hình phạt tù bằng thời hạn tạm giam 07 tháng 02 ngày tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T5 từ 24 đến 30 tháng tù.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T6 từ 24 đến 30 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì nên không đề cập. Đối với 01 dao rựa thu giữ được là hung khí, công cụ phạm tôi nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 thẻ nhớ có chứa video ghi lại diễn biến vụ án đã lưu giữ vào hồ sơ vụ án, chủ sở hữu là ông Phạm Văn H2 không yêu cầu trả lại nên không đề cập đến.
Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có tranh luận gì với Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố và chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, kết quả xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại nào về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tiến hành hợp pháp.
Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Đức Đại T3 và ông Phan Ngọc S vắng mặt không có yêu cầu gì đối với các bị cáo, những người làm chứng Phạm Duy A1, Nguyễn Thị Mỹ D vắng mặt, lời khai đã thể hiện rõ trong hồ sơ vụ án nên việc vắng mặt những người này không ảnh hưởng đến nội dung vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử khi vắng mặt những người này.
Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận diễn biến vụ án và các hành vị cụ thể như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã nêu; xét lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; kết hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 30/9/2023 các bị cáo đã có hành vi đánh nhau gây rối tại quán ăn S1, tổ dân phố N, thị trấn T, huyện Đ, có sử dụng hung khí nguy hiểm, làm hư hỏng tài sản và gây thương tích nhẹ cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Hành vi của các bị cáo là cố ý làm mất tình trạng ổn định, có tổ chức ở nơi công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đã phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã nêu là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về vai trò, tính chất, mức độ hành vi của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính liều lĩnh, bất chấp, xem thường pháp luật, công khai xâm phạm đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Các bị cáo vì muốn giải quyết mâu thuẫn nhỏ mà tụ tập đông người, sử dụng hung khí và có hành động bạo lực không những xâm phạm về tài sản, sức khỏe của người khác mà còn làm ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh bình thường của nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương; do đó cần thiết phải xử lý nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, đồng thời cũng có tính giáo dục phòng ngừa chung.
Trong vụ án này các bị cáo có sự phối hợp tích cực để thực hiện tội phạm nhưng không có sự bàn bạc phân công cụ thể nên quan hệ giữa các bị cáo trong vụ án này chỉ là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, cũng cần phân hóa vai trò của từng bị cáo để quyết định mức hình phạt tương xứng. Mâu thuẫn xuất phát từ thái độ của bị cáo D1 và sự hưởng ứng tích cực của bị cáo C3, các bị cáo là người phát động, tích cực thực hiện và lôi kéo các bị cáo khác tham gia; bị cáo T5 thực hành tích cực sử dụng ly bia, chai bia và ghế gỗ là vật sẵn có tại quán để đánh nhau suốt diễn biến vụ việc, hành vi của bị cáo làm hư hỏng nhiều tài sản; bị cáo Nguyễn Xuân T6 là người chuẩn bị hung khí có vai trò cổ vũ, tạo điều kiện cho bị cáo C3 dùng rựa đe dọa nhóm của T3 nên tính chất hành vi phạm tội của các bị cáo nêu trên là ngang nhau, cần thiết phải cách ly khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo. Riêng bị cáo Lê Ngọc Q tham gia, thứ yếu nên có vai trò và trách nhiệm thấp hơn các bị cáo khac, do bị cáo đã bị tạm giam trong thời gian dài, ăn năn hối cải về hành vi của mình và có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên xử phạt bị cáo bằng thời hạn tạm giam như đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với tính chất phạm tội của bị cáo.
Về tình tiết định khung hình phạt: Hành vi của bị cáo gây rối có sử dụng hung khí thuộc tình tiết định khung tăng nặng tại khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự năm 2015.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hành vi của các bị cáo không có yếu tố tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo nên xem xét áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; các bị cáo Trần Hữu D1, Lê Ngọc Q thuộc trường hợp gia đình có công với cách mạng nên được xem xét thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì đối với các bị cáo nên không đề cập. Đối với 01 dao rựa thu giữ được là hung khí, công cụ phạm tôi nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với 01 thẻ nhớ có chứa video ghi lại diễn biến sự việc đã lưu giữ vào hồ sơ vụ án, chủ sở hữu là ông Phạm Văn H2 không yêu cầu trả lại nên không đề cập đến.
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Tuyên bố các bị cáo Trần Hữu D1, Phạm Đình C3, Lê Ngọc Q, Nguyễn Đức T5, Nguyễn Xuân T6 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
1.1. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Trần Hữu D1 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023.
1.2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Đình C3 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/3/2024.
1.3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38; Điều 54 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lê Ngọc Q 07 (bảy) tháng 02 (hai) ngày tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023 (bằng thời hạn tạm giam). Áp dụng Điều 328 Bộ luật tố tụng hình sự; trả tự do cho bị cáo Lê Ngọc Q ngay tại phiên tòa.
1.4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T5 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/12/2023.
1.5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân T6 24 (hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024.
[2] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự và điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tịch thu tiêu hủy 01 dao rựa dài 104 cm, cán gỗ hình trụ dài 75 cm đường kính 2,5cm, lưỡi bằng kim loại rộng 5,3cm (Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 27/5/2024 giữa Công an huyện Đ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương).
[3] Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về lệ phí, án phí Tòa án, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4] Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Thành Luân |
Bản án số 37/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG về gây rối trật tự công cộng
- Số bản án: 37/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƯƠNG – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Hữu D cùng đồng bọn gây rối trật tự công cộng
