Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ BUÔN HỒ

TỈNH ĐẮK LẮK

 

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày 31-7-2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HÒ, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Khanh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Ngọc Khánh và ông Hứa Quang Hồng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết Nga – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Thu Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 31/7/2024, tại Phòng xử án, Toà án nhân dân thị xã Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 20/6/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị V, sinh năm 1985.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

Bị đơn: Anh Nguyễn Xuân V1, sinh năm 1985 – vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ dân phố B, phường Đ, thị xã B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị V trình bày có nội dung: Chị và anh Nguyễn Xuân V1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K (nay là phường Đ, thị xã B), tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/9/2008. Sau khi kết hôn được một thời gian thì giữa hai anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, xung đột lẫn nhau. Dần dần hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hiện mâu thuẫn giữa chị và anh V1 không thể hàn gắn được. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn với anh V1.

Về con chung, chị và anh V1 có 02 người con chung là cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 và Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013. Khi ly hôn, chị yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013 và giao cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 cho anh V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị không yêu cầu giải quyết.

Tại văn bản trình bày ý kiến ngày 21/5/2024 bị đơn anh Nguyễn Xuân V1 gửi đến Tòa án trình bày có nội dung: Về quan hệ hôn nhân, anh và chị Nguyễn Thị V đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật trên cơ sở tự nguyện vào năm 2008. Quá trình chung sống hạnh phúc vợ chồng không có mâu thuẫn gì. Nay chị V yêu cầu Toà án giải quyết cho anh chị ly hôn thì anh không đồng ý.

Về con chung, quá trình chung sống, vợ chồng anh có 02 người con chung là cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 và Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013. Nguyện vọng của anh về con cái, về tài sản thì hai bên tự thỏa thuận.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh V1 không đến tham gia tố tụng tại Tòa án.

Tại phiên tòa kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.

Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V về quan hệ hôn nhân, về con chung, cấp dưỡng nuôi con chung và tài sản.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 và tranh chấp này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Buôn Hồ là đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về trình tự thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Xuân V1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn là phù hợp khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về yêu cầu của đương sự:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh V1 là quan hệ hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ, đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã E, huyện K (nay là phường Đ, thị xã B), tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/9/2008. Theo lời trình bày của nguyên đơn thì sau khi kết hôn chị V và anh V1 xảy ra mâu thuẫn, thường xuyên cãi nhau, do bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Xét lời trình bày của nguyên đơn phù hợp với kết quả xác minh tại địa phương về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị V và anh V1 thì địa phương xác định: Anh V1 và chị V có mâu thuẫn, phù hợp với việc mâu thuẫn đã diễn ra kéo dài, chị V đã từng nộp đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết ly hôn tại Tòa án nhưng sau đó đã rút đơn khởi kiện.

Như vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh V1 có xảy ra mâu thuẫn, đã lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, chị V có yêu cầu giải quyết cho vợ chồng chị được ly hôn và anh V1 cũng đồng ý ly hôn. Do đó việc giải quyết cho chị V ly hôn anh V1 là phù hợp với khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4.2] Về con chung: Quá trình chung sống, chị V và anh V1 có 02 người con chung là cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 và Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013. Khi ly hôn, chị V yêu cầu được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013 và giao cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 cho anh V1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi đủ tuổi thành niên. Hội đồng xét xử thấy rằng: Yêu cầu giải quyết về con chung của chị V là phù hợp với ý kiến của các con chung. Mặc dù anh V1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng không có ý kiến gì. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy, giao cho chị V được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng cháu Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013 và giao cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 cho anh V1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên là phù hợp Điều 81, 82 và 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

[4.3] Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị V và anh V1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4.4] Về tài sản: Chị V và anh V1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Buôn Hồ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với Điều 144, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 144; Điều 147; khoản 1, 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị V.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Xuân V1.

2. Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Nhật V2, sinh ngày 16/4/2010 cho anh Nguyễn Xuân V1 trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao cháu Nguyễn Diệu N, sinh ngày 02/01/2013 cho chị Nguyễn Thị V trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con chung đủ tuổi thành niên.

Anh Nguyễn Xuân V1 và chị Nguyễn Thị V có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Xuân V1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Xuân V1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

5. Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị V phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001440 ngày 12/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Buôn Hồ.

6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND thị xã Buôn Hồ;
  • - CCTHADS thị xã Buôn Hồ;
  • - UBND phường Đạt Hiếu;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP Tòa án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Bùi Văn Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BUÔN HỒ, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị V và anh Nguyễn Xuân V1 tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân xã E, huyện K (nay là phường Đ, thị xã B), tỉnh Đắk Lắk vào ngày 22/9/2008. Sau khi kết hôn được một thời gian thì giữa hai anh chị thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra bất đồng quan điểm, xung đột lẫn nhau. Dần dần hai vợ chồng không còn tình cảm với nhau, hiện mâu thuẫn giữa chị và anh V1 không thể hàn gắn được. Vì vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh V1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger