Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN ĐỊNH

TỈNH THANH HÓA

Bản án số: 37/2024/HNGĐ - ST

Ngày: 26 - 9-2024

V/v Ly hôn.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Hữu Thắng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu

2. Ông Nguyễn Văn Cúc

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Thắng - Thư ký TAND huyện Yên Định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng – Kiểm sát viên.

Ngày 26/9/2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai, vụ án thụ lý số 99/2024/TLST - HNGĐ ngày 20/6/2024 về việc Ly hôn. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2024/QĐXXST - HNGĐ ngày 26/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2024/ QÐST – HNGĐ ngày 11/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị X, sinh năm 1986 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Số E ngách F ngõ A, Doãn Kế T, tổ A, phường M, quận C, thành phố Hà Nội.

  2. Bị đơn: Anh Trần Văn T1, sinh năm 1987 (Vắng mặt).

    Địa chỉ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 19/6/2024 và quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Nguyễn Thị X trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Trần Văn T1 xây dựng gia đình trên cơ sở tự nguyện, có thời gian tìm hiểu 06 tháng thì tiến tới hôn nhân. Đăng ký kết hôn ngày 25/01/2022 tại UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc. Đến đầu năm 2024 bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, bất đồng với nhau trong quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong hôn nhân. Mặt khác, anh T1 thường xuyên rượu chè, đánh đập chửi bới chị và mẹ chị. Sau khi mâu thuẫn xảy ra đã được gia đình khuyên giải nhưng tình cảm vợ chồng không hòa hợp được. Vợ chồng đã sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, không ai quan tâm gì tới nhau. Hiện nay chị không mang thai nghén gì, chị xác định tình cảm vợ chồng không còn nên xin được ly hôn anh T1.

Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh Trần Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Vì vậy không có lời khai của anh T1 và không tiến hành hòa giải được. Quá trình giải quyết Tòa án gửi thông thụ lý vụ án và các giấy triệu tập đương sự, anh Trần Văn T1 và gia đình đã nhận được nhưng anh T1 vẫn vắng mặt.

Tại bản xác minh ngày 15/7/2024 ông Trần Văn T2 là bố đẻ anh T1 trình bày: Anh Trần Văn T1 và chị Nguyễn Thị X kết hôn với nhau năm 2022. Vợ chồng chung sống với nhau hạnh phúc đến đầu năm 2024 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T1 và mẹ đẻ chị X mâu thuẫn với nhau dẫn đến vợ chồng bất đồng quan điểm, cải vã nhau. Sau khi mâu thuẫn sảy ra gia đình cũng đã hòa giải nhưng không thành. Hiện nay anh T1 không có nhà, anh T1 đi làm ngoài Hà Nội, hàng tháng có về nhà một hai hôm rồi lại đi. Nay chị X làm đơn xin ly hôn anh T1, vì là hạnh phúc của hai con, nên tùy hai con quyết định. Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.

Quá trình làm việc ông T2 có gọi điện cho anh T1 và bật loa ngoài cho mọi người cùng nghe. Anh T3 cho biết quan điểm giải quyết:

Anh không đồng ý ly hôn với chị X. Vì mâu thuẫn chủ yếu bắt nguồn từ anh và mẹ vợ dẫn tới vợ chồng sảy ra cãi vả nhau, bất đồng quan điểm. Vợ chồng chưa có con chung, không có tài sản chung và nợ chung. Anh T3 đã nhận các giấy tờ thủ tục tố tụng của Tòa án và biết được Tòa án đang giải quyết ly hôn giữa anh và chị X. Anh không tới Tòa án làm việc, do anh bận công việc. Anh cũng không cung cấp địa chỉ hiện nay cho Tòa án vì anh không làm cố định một nơi. Mọi giấy tờ thủ tục anh yêu cầu Tòa án giao cho bố anh là ông T2 nhận hộ, ông T2 sẽ thông báo và giao lại cho anh sau.

Tại phiên tòa: Chị X xin vắng mặt và đã gửi đơn xin xét xử vắng mặt. Anh Tuấn vắng mặt tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần 2

Kiểm sát viên phát biểu quan điểm: Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Bị đơn không thực hiện đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung: Căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật TTDS; Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội. Đề nghị Hội đồng xét xử: Về Hôn nhân: Chấp nhận đơn yêu cầu của chị X, xử cho chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Trần Văn T1. Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.

Kiến nghị khắc phục vi phạm trong quá trình giải quyết vụ án: Không.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào diễn biến tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

{1} Về tố tụng:

1.1. Xác định thẩm quyền giải quyết vụ án: Căn cứ theo các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án, Tòa án nhân dân huyện Yên Định thụ lý và giải quyết vụ án ly hôn giữa chị X và anh T1 là đúng quy định về thẩm quyền xét xử, theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Khoản 1 Điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

1.2.Về sự vắng mặt của các đương sự:

Tại phiên tòa anh T1 vắng mặt không có lý do, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ 02 lần. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị X có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, HĐXX tiến hành xét xử vắng mặt chị X là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

{2} Về nội dung:

- Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh T1 là tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Nguyên nhân mâu thuẫn là do quan điểm sống không hợp nhau, không tìm được tiếng nói chung trong hôn nhân, anh T1 ham chơi rượu chè, nhiều lúc còn đánh đập chửi bới chị X và mẹ vợ. Đó là những nguyên nhân chính dẫn đến phát sinh mâu thuẫn vợ chồng.

Đánh giá thực trạng mâu thuẫn cuộc sống vợ chồng: Chị X và anh T1 sống ly thân từ đầu năm 2024 đến nay, hai bên không quan tâm đến nhau. Điều đó chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị X và anh T1 mâu thuẫn đã trầm trọng, kéo dài. Mục đích hôn nhân là xây dựng gia đình hoà thuận, hạnh phúc không đạt được. Hiện tại đời sống chung đã chấm dứt. Nay chị X xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn. Anh T3 không đồng ý ly hôn nhưng cũng không về để Tòa án hòa giải cho đoàn tụ. Điều đó thể hiện anh T3 không thiết tha với cuốc sống vợ chồng. Căn cứ tình trạng cuộc sống của chị X và anh T3 hiện tại xác định tình cảm vợ chồng không còn, nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị X là phù hợp.

- Về con chung: Chị X và anh T3 chưa có con chung, nên HĐXX không xem xét.

- Về tài sản và công nợ chung: Chị X và anh T3 không có tài sản chung và công nợ chung nên HĐXX không xem xét.

- Về án phí: Chị X khởi kiện vụ án xin ly hôn nên phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của phápluật.

Từ những nhận định nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Áp dụng: Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án; Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết.

- Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị X.

Về hôn nhân: Chấp nhận chị Nguyễn Thị X được ly hôn anh Trần Văn T1.

Về con chung: Chị X và anh T1 chưa có con chung.

Về tài sản và công nợ chung: Chị X và anh T1 không có tài sản và công nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Chị Nguyễn Thị X phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền này được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn) mà chị X đã nộp tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, theo Biên lai thu số 0003561 ngày 19/6/2024. Chấp nhận chị X đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Tuyên quyền kháng cáo bản án cho chị X và anh T1 trong hạn 15 ngày, tính từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Yên Định;
  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Chi cục THADS Yên Định;
  • - UBND xã Yên Thọ, huyện Yên Định;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, văn phòng.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Hữu Thắng

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ - ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA về ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ - ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger