Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày 25-02-2025

“V/v ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Triều.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Văn Giang.

Ông Tô Hoàng Nhàn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Quang Nhật là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Kil – Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 02 năm 2025 tại Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 324/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 10 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trương Thị Thúy T, sinh năm 2005 (xin vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
  • - Bị đơn: Ông Đoàn Chí T1, sinh năm 2004 (vắng mặt).
  • Địa chỉ cư trú: Ấp V, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 28 tháng 10 năm 2024 nguyên đơn bà Trương Thị Thúy T trình bày: Vào năm 2022 bà và ông Đoàn Chí T1 có tổ chức thành hôn nhưng không có đăng ký kết hôn, đến năm 2024 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau. Thời gian đầu vợ chồng chung sống với nhau rất hạnh phúc, nhưng thời gian gần đây vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, thường xuyên xảy ra cự cãi. Xét thấy cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã trầm trọng không thể sống chung với nhau được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Đoàn Chí T1. Trong quá trình chung sống bà và ông T1 có một người con chung tên Đoàn Thúy Á, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2023, con chung do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung và yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Về tài sản chung tự thoả thuận, nợ chung không có không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Đối với bị đơn ông Đoàn Chí T1 đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý và các văn bản tố tụng nhưng ông T1 vắng mặt và không cung cấp lời khai cho Tòa án.

- Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị Thúy T. Cho bà T ly hôn với ông Đoàn Chí T1; giao con chung cho bà Trương Thúy T trực tiếp nuôi dưỡng; ông T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Thị Thúy T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đoàn Chí T1, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Do đó, đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc “Ly hôn” nên theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Bà Trương Thị Thúy T là nguyên đơn đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt bà Trương Thị Thúy T. Ông Đoàn Chí T1 là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Đoàn Chí T1.

[3] Về quan hệ hôn nhân: bà Trương Thị Thúy T và ông Đoàn Chí T1 tự nguyện chung sống với nhau vào năm 2022, đến năm 2024 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau nên hôn nhân của bà Trương Thị Thúy T với ông Đoàn Chí T1 là hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Bà T yêu cầu giải quyết cho ly hôn với ông Đoàn Chí T1. Tòa án đã thông báo thụ lý vụ án, thông báo hòa giải và triệu tập hợp lệ ông Đoàn Chí T1 nhiều lần để tham gia hoà giải và xét xử nhưng ông T1 vắng mặt không tham gia hoà giải để hàn gắn tình cảm vợ chồng và không có ý kiến đối với yêu cầu ly hôn của bà Trương Thị Thúy T. Bà T cho rằng trong quá trình chung sống vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc, thường xuyên cự cãi. Điều này cho thấy vợ chồng không còn thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau nên tình trạng hôn nhân giữa bà Trương Thị Thúy T với ông Đoàn Chí T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Trương Thị Thúy T về việc yêu cầu ly hôn với ông Đoàn Chí T1.

[4] Về quyền nuôi con chung: Trong quá trình chung sống bà Trương Thị Thúy T với ông Đoàn Chí T1 có một người con chung tên Đoàn Thúy Á, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2023, con chung do bà T đang trực tiếp nuôi dưỡng, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung. Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý cho ông Đoàn Chí T1 nhưng ông T1 không có ý kiến gì về yêu cầu của trực tiếp nuôi con chung của bà T. Xét thấy, từ khi bà T và ông T1 không còn chung sống đến nay con chung do bà T trực tiếp nuôi dưỡng; người con chung tên Đoàn Thúy Á, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2023 đến ngày xét xử sơ thẩm chưa đủ 36 tháng tuổi nên giao con chung cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình. Ông Đoàn Chí T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Bà Trương Thị Thúy T yêu cầu ông Đoàn Chí T1 cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng. Tòa án có tống đạt thông báo thụ lý cho ông Đoàn Chí T1 nhưng ông T1 không có ý kiến gì về đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà T. Yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung của bà T phù hợp với quy khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Đoàn Chí T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Đoàn Thúy Á, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2023 mỗi tháng 1.000.000đ, hình thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi người con chung đủ 18 tuổi.

[6] Về tài sản chung, nợ chung bà Trương Thị Thúy T, ông Đoàn Chí T1 không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét.

[7] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân đề nghị như nêu trên là có cơ sở nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[8] Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trương Thị Thúy T phải chịu 300.000đ, bà T đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000đ được chuyển thu án phí. Ông Đoàn Chí T1 có nghĩa vụ nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; điểm a khoản 1 điều 39, Điều 147; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Áp dụng các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình; áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Trương Thị Thúy T và ông Đoàn Chí T1.
  2. Về quyền nuôi con chung: Giao người con chung tên Đoàn Thúy Á, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2023 cho bà Trương Thị Thúy T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Đoàn Chí T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Ông Đoàn Chí T1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung tên Đoàn Thúy Á, sinh ngày 19 tháng 9 năm 2023 mỗi tháng 2.000.000đ, hình thức cấp dưỡng hàng tháng, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm đến khi người con chung đủ 18 tuổi.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

  1. Về án phí:
    • - Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm bà Trương Thị Thúy T phải chịu 300.000 đồng, nhưng được đối trừ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), theo biên lai thu tiền số 0003982 ngày 28 tháng 10 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; bà Trương Thị Thúy T đã nộp đủ án phí.
    • - Buộc ông Đoàn Chí T1 nộp án phí dân sự sơ thẩm 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng)

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt theo quy định của pháp luật.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Chi cục thi hành án huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - UBND xã Phú Thuận, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, văn thư.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Việt Triều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 25/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bà Trương Thị Thúy T yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Đoàn Chí T1, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger