Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/5/2024

V/v: “Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Võ Tấn Thành

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Ông Trần Văn Mỹ Phúc
  2. Bà Dương Thị Phụng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Nương – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Không có.

Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 91/2024/TLST-HNGĐ, ngày 19 tháng 3 năm 2024, về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 16 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Lê Thị C, sinh năm 1974; địa chỉ số B, ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Vĩnh Long. (có đơn xin vắng mặt)

* Bị đơn: Ngô Thanh H, sinh năm 1971; địa chỉ số A, đường H, khóm E, Phường B, thành phố V, Vĩnh Long (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 22/02/2024 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết, nguyên đơn Lê Thị C trình bày:

Sau khi tìm hiểu một thời gian bà và ông Ngô Thanh H tiến tới hôn nhân, được cha mẹ hai bên tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long ngày 24/5/1994. Vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ đó đến nay, cuộc sống của ai người đó sống, vợ chồng không quan tâm đến nhau. Bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Thanh H. Về con chung, có 02 con chung tên Ngô Minh M, sinh ngày 01/4/1995 và Ngô Tấn T, sinh ngày 20/4/2010; hiện nay cháu M đã trưởng thành và có công việc làm ổn định; riêng cháu T đang sống với bà. Sau khi ly hôn bà C yêu cầu được nuôi cháu T, không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và về nợ chung, bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn Ngô Thanh H không có bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của bà C và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về thủ tục tố tụng: Bà Lê Thị C khởi kiện ông Ngô Thanh H có địa chỉ tại thành phố V để yêu cầu xin ly hôn và nuôi con; cho nên, đây là vụ án dân sự tranh chấp về hôn nhân và gia đình “Ly hôn, nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  2. Bị đơn Ngô Thanh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng ông H vẫn cố tình vắng mặt, cho nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Xét yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị C, Hội đồng xét xử thấy: Bà C và ông H chung sống với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường B, thị xã V (nay là thành phố V), tỉnh Vĩnh Long ngày 24/5/1994, nên được pháp luật thừa nhận là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986. Quá trình vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm nên đã ly thân từ năm 2020 cho đến nay, vợ chồng không quan tâm lẫn nhau. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã thông báo cho ông H biết việc bà C xin ly hôn nhưng ông H không có ý kiến phản đối, bỏ mặt bà C đơn phương ly hôn. Như vậy, xét thấy tình cảm vợ chồng giữa bà C và ông H đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được; do đó, bà C yêu cầu được ly hôn với ông H là có cơ sở chấp nhận phù hợp với Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  4. Về quan hệ con chung: Bà C, ông H chung sống có 02 con chung tên Ngô Minh M, sinh ngày 01/4/1995 và Ngô Tấn T, sinh ngày 20/4/2010. Xét thấy hiện nay cháu M đã trưởng thành và có việc làm ổn định nên không xem xét giải quyết; riêng cháu T hiện đang ở với bà C và có nguyện vọng ở với bà C, còn ông H không có ý kiến phản đối. Do đó, nhằm đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho cháu T nên giao cháu T cho bà C nuôi dưỡng là có căn cứ, phù hợp với Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
  5. Về cấp dưỡng nuôi con, bà C không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  6. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị C không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  7. Về án phí: Bà Lê Thị C phải chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Lê Thị C. Bà C được ly hôn với ông Ngô Thanh H.
  2. Về con chung: Giao con chung tên Ngô Tấn T, sinh ngày 20/4/2010 cho bà Lê Thị C nuôi dưỡng; bà C không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Ngô Minh M, sinh ngày 01/4/1995 đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Ông H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được quyền cản trở.

    Vì lợi ích của con trẻ khi cần thiết có thể thay đổi quyền nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lê Thị C không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về án phí: Buộc bà Lê Thị C chịu 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006645, ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vĩnh Long, nên bà C không phải nộp thêm.
  5. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh VL;
  • - VKSND cùng cấp;
  • - Chi cục THA TPVL;
  • - Các đ/s.
  • - UBND Phường 2, thành phố Vĩnh Long
  • (Chứng nhận KH số 31, ngày 24/5/1994)
  • - Lưu: Hồ sơ,...

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Tấn Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VĨNH LONG - TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger