Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SA ĐÉC

TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 14/6/2024

V/v tranh chấp hôn nhân và gia đình về ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Trí.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Cao Thị Diệu Hiền

Ông Nguyễn Văn Minh

Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Kim Kiều – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, Đồng Tháp.

Trong ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 70/2024/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Bùi Võ Quốc B, sinh năm 1978.

Địa chỉ: Số F, ĐX A, phường H, thành phố T, tỉnh B.

Bị đơn: Chị Trần Thị Kiều T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Số A L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ.

(Nguyên đơn, bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Bùi Võ Bảo Q trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu anh B và chị T sống chung vợ chồng từ năm 2003, có tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận A, Thành phố H vào ngày 05/6/2003. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng những năm gần đây do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên gây gỗ, cự cải không còn hạnh phúc. Mặc dù, vợ chồng đã cố gắng hòa giải, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng mâu thuẫn vẫn không giải quyết được. Vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay anh B không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống với chị Trần Thị Kiều T bởi cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên cả hai cần ly hôn để tạo dựng cuộc sống riêng của mình, anh B yêu cầu ly hôn chị T.

- Về nuôi con chung: Có 02 con tên Bùi Võ Thiên Â, sinh ngày 07/9/2005 và Bùi Võ Thiên P, sinh ngày 18/9/2007 (hiện con đang sống chung với anh B). Khi ly hôn, anh B yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con Bùi Võ Thiên P, anh B không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con tên Bùi Võ Thiên  đã thành niên, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: anh B xác định Không có nên không yêu cầu giải quyết.

Quá trình tham gia tố tụng bị đơn chị Trần Thị Kiều T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Về thời gian chung sống, tìm hiểu, tổ chức đám cưới, đăng ký kết hôn chị T thống nhất theo lời trình bày của anh B. Sau kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, vì vậy vợ chồng thường xuyên gây gỗ, cự cải, không còn hạnh phúc, vợ chồng cũng nhiều lần hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng không được, mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, từ năm 2020 chị T về nhà cha mẹ ruột ở và ly thân anh B đến nay. Nay chị T đồng ý ly hôn anh B.

- Về nuôi con chung: Có 02 con tên Bùi Võ Thiên Â, sinh ngày 07/9/2005 và Bùi Võ Thiên P, sinh ngày 18/9/2007 (hiện con đang sống chung với anh B). Khi ly hôn, chị T đồng ý giao con Bùi Võ Thiên P cho anh B chăm sóc, nuôi dưỡng, chị T không cấp dưỡng nuôi con.

Đối với con tên Bùi Võ Thiên  đã thành niên, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về chia tài sản chung và nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Ý kiến của con: Tại văn bản trình bày ý kiến của cháu Bùi Võ Thiên P, nếu cha mẹ ly hôn thì cháu P có nguyện vọng được sống chung với cha Bùi Võ Quốc B.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: anh Bùi Võ Quốc B có đơn khởi kiện ly hôn với chị Trần Thị Kiều T, chị T có địa chỉ tại A L, Khóm A, Phường C, thành phố S, tỉnh Đ; nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, theo quy định tại Điều 28, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục tố tụng: Xét thấy nguyên đơn anh Bùi Võ Quốc B và bị đơn chị Trần Thị Kiều T có đơn xin xét xử vắng mặt. Do đó, căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo thủ tục chung.

[3] Về nội dung vụ án.

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Xét yêu cầu ly hôn của anh Bùi Võ Quốc B Hội đồng xét xử xét thấy:

Anh B và chị T chung sống vào năm 2003, trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận A, Thành phố H vào ngày 05/6/2003, nên quan hệ hôn nhân giữa anh B và chị T được xác định là hôn nhân hợp pháp.

Sau kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng về sau thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chủ yếu là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống nên thường xuyên gây gỗ, cự cải làm cho cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, nhiều lần vợ chồng cũng đã hòa giải, hàn gắn tình cảm nhưng không thể hàn gắn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, từ năm 2020 chị T về nhà cha mẹ ruột ở, anh B và chị T ly thân không còn quan tâm, chăm sóc lo lắng cho nhau.

Vì vậy, cho thấy tình cảm vợ chồng giữa anh B và chị T đã không thể hàn gắn được, mâu thuẫn giữa vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vợ chồng không có sự thương yêu, quan tâm chăm sóc cho nhau. Vợ chồng cũng đã sống ly thân trong thời gian dài. Hai bên cũng không có biện pháp gì để hòa giải, hàn gắn tình cảm. Do đó, xét thấy việc anh B yêu cầu ly hôn chị T là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về nuôi con chung: anh B và chị T chung sống có 02 con chung tên Bùi Võ Thiên Â, sinh ngày 07/9/2005 và Bùi Võ Thiên P, sinh ngày 18/9/2007 (hiện con đang sống chung với anh B). Khi ly hôn anh B yêu cầu được quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con Bùi Võ Thiên P, anh B không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn. Hơn nữa, quá trình giải quyết vụ án, chị T cũng đồng ý để con Bùi Võ Thiên P cho anh B được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Xét thấy, sự thỏa thuận về việc nuôi con chung sau ly hôn giữa anh B và chị T là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân gia đình cũng như với nguyện vọng của con nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về phía chị T có quyền nghĩa vụ đến thăm con, không ai được quyền cản trở.

Đối với con tên Bùi Võ Thiên  đã thành niên, tự nuôi sống bản thân nên không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

[3.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Anh B không yêu cầu chị T cấp dưỡng nuôi con trong vụ án này nên không xem xét.

[3.4] Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Anh B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm (về ly hôn) là 300.000₫.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 28, Điều 31, Điều 35, Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

- Căn cứ Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử :

  1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Bùi Võ Quốc B về việc yêu cầu ly hôn. Cho anh Bùi Võ Quốc B và chị Trần Thị Kiều T ly hôn.
  2. Về nuôi con chung:
    • - Anh Bùi Võ Quốc B được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Bùi Võ Thiên P, sinh ngày 18/9/2007 (hiện con đang sống chung với anh B).
    • - Anh Bùi Võ Quốc B không yêu cầu chị Trần Thị Kiều T cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn nên không xem xét.
    • - Chị Trần Thị Kiều T có quyền, nghĩa vụ đến thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh Bùi Võ Quốc B và chị Trần Thị Kiều T đều xác định không có nên không xem xét.
  4. Về án phí:
    • - Anh Bùi Võ Quốc B phải chịu toàn bộ án phí (về ly hôn) là 300.000đ. Số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ anh Bùi Võ Quốc B đã nộp ngày 27/3/2024 theo biên lai thu số 0004076 tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi bổ sung năm 2014.

Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trần Minh T1

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SA ĐÉC - TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: anh a ly hôn chị b về mâu thuẩn gia đình
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger