|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-ST Ngày: 06-5-2024 V/v tranh chấp ly hôn và nuôi con |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Nga.
- Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Đức Minh.
- Ông Nguyễn Quốc Triều.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Diệu Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 320/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 26 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Cao Thị Mỹ T1, sinh năm 1992. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Bị đơn: Anh Trần Tiến G, sinh năm 1989. Vắng mặt
Địa chỉ: ấp H, xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai cùng ngày 10/10/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T1 trình bày: Chị và anh Trần Tiến G thành hôn năm 2015 trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 17/3/2015. Thời gian vợ chồng chung sống xảy ra nhiều mâu thuẫn, chị cố gắng hàn gắn tình cảm vợ chồng, tạo điều kiện để cả hai tự khắc phục khuyết điểm của mình nhưng không đạt hiệu quả, tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt nên cả hai chấm dứt quan hệ vợ chồng, không quan tâm chăm sóc lẫn nhau từ năm 2018 đến nay. Chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với anh G, chị yêu cầu Toà án giải quyết cho được ly hôn với anh G. Về con chung, chị và anh G có 01 con chung tên Trần Cao Hưng L, sinh ngày 22/4/2016 hiện đang sống chung với chị, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu anh G cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung, chị không yêu cầu giải quyết.
Bị đơn anh Trần Tiến G đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Toà án.
Tại biên bản xác minh ngày 22/3/2023 bà Nguyễn Thị Bạch T2 (mẹ ruột của chị Cao Thị Mỹ T1) trình bày: Chị T1, anh G thành hôn năm 2015, sau khi thành hôn vợ chồng chị T1 mở tiệm làm tóc, chụp hình tại xã B được hơn 02 năm và sinh cháu Trần Cao Hưng L. Sau khi sinh con vợ chồng chị T1 gửi cháu L cho bà chăm sóc nuôi dưỡng, vợ chồng T1 đi làm thuê ở Thành phố Hồ Chí Minh không biết xảy ra mâu thuẫn gì, vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ năm 2019 đến nay bà không thấy anh G tới lui. Chị T1 xin ly hôn với anh G bà không có ý kiến, con chung của chị T1 và anh G hiện nay bà đang chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu được học hành đầy đủ, bà sẽ phụ chị T1 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L đến trưởng thành.
Tại phiên tòa:
- Nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T1 vắng mặt có đơn yêu cầu vắng mặt.
- Bị đơn anh Trần Tiến G vắng mặt không lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Riêng bị đơn không có văn bản trình bày ý kiến, không tham gia đầy đủ các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ là vi phạm quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định tại các điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về hướng giải quyết vụ án:
Đề nghị áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 19, 51, 56, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- - Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Cao Thị Mỹ T1 được ly hôn với anh Trần Tiến G.
- - Về con chung: Giao con chung tên Trần Cao Hưng L, sinh ngày 22/4/2016 cho chị T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng; Anh G có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- - Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xem xét.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không xem xét.
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Thị Mỹ T1 có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T1 vắng mặt có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Tiến G vắng mặt không lý do. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự trên.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Chị Cao Thị Mỹ T1 và anh Trần Tiến G thành hôn năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Long ngày 17/3/2015 nên xem đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp phù hợp theo quy định tại Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Trong quá trình chung sống, giữa chị Cao Thị Mỹ T1 và anh Trần Tiến G có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cả hai đã tạo điều kiện về thời gian để tự khắc phục khuyết điểm nhưng vẫn không có kết quả và vợ chồng đã cắt đứt quan hệ từ năm 2019 đến nay. Mặt khác, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập đương sự nhiều lần để hòa giải nhằm giúp đỡ chị T1, anh G đoàn tụ nhưng anh G vắng mặt không lý do, chứng tỏ anh G không mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T1 là phù hợp theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Giữa chị Cao Thị Mỹ T1 và anh Trần Tiến G có 01 con chung tên Trần Cao Hưng L, sinh ngày 22/4/2016 hiện đang sống chung với chị T1, chị T1 yêu cầu được tiếp tục nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy cháu Trần Cao Hưng L có văn bản thể hiện ý kiến muốn được sống chung với mẹ. Bị đơn anh Trần Tiến G đã nhận được thông báo của Tòa án về việc khởi kiện của chị T1 nhưng không có ý kiến gì về việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Do đó, để ổn định cuộc sống và theo nguyện vọng của con chung từ 07 tuổi trở lên nên cần giao cháu Trần Cao Hưng L, sinh ngày 22/4/2016 cho chị Cao Thị Mỹ T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về cấp dưỡng nuôi con: Việc cấp dưỡng nuôi con là nghĩa vụ của người không trực tiếp nuôi con. Chị Cao Thị Mỹ T1 là người đang trực tiếp nuôi con nhưng không yêu cầu nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Cao Thị Mỹ T1 không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Cao Thị Mỹ T1 phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn theo quy định điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[3] Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát có căn cứ chấp nhận toàn bộ.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng: Các điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Cao Thị Mỹ T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Cao Thị Mỹ T1 được ly hôn với anh Trần Tiến G.
- Về con chung: Giao cháu Trần Cao Hưng L, sinh ngày 22/4/2016 cho chị Cao Thị Mỹ T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Tiến G không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Cao Thị Mỹ T1 có nghĩa vụ nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu số 0000225 ngày 10/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, chị T1 đã nộp đủ. .
- Nguyên đơn, bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thu Nga |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn 1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Cao Thị Mỹ T1 được ly hôn với anh Trần Tiến G. 2. Về con chung: Giao cháu Trần Cao Hưng L, sinh ngày 22/4/2016 cho chị Cao Thị Mỹ T1 tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Trần Tiến G không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung mà không ai được cản trở. 3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Cao Thị Mỹ T1 có nghĩa vụ nộp 300.000đ
