TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 25-11- 2024
V/v: “chia tài sản chung sau ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: anh Phạm Văn Tâm.
- Các Thẩm phán: anh Hồ văn Cường; chị Phạm Ngọc Giàu.
Thư ký phiên tòa: anh Ngô Tấn Tài - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: chị Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm canh khai vụ án thụ lý số 28/2024/TLPT-DS, ngày 08 tháng 10 năm 2024, về “chia tài sản sau ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 575/2024/QĐPT-DS ngày 29 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: anh Đào Thanh H, sinh năm 1977, địa chỉ: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: chị Lê Minh T, sinh năm 1978, địa chỉ: Số F, đường N, Khu phố B, Phường A. Thành phố T, tỉnh Tây Ninh; tạm trú: ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: anh Trần Văn Hiển T1, sinh năm 1983, địa chỉ: ấp N, xã B, huyện D, tỉnh Tây Ninh (theo hợp đồng uỷ quyền ngày 01 tháng 11 năm 2022); có mặt.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị N, sinh năm 1954 và ông Lê Hồng M, sinh năm 1954, địa chỉ: Số F, Đường N, Khu phố B, Phường A, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; anh M uỷ quyền cho chị N tham gia tố tụng (theo văn bản uỷ quyền ngày 28-3-2023); có mặt.
- Chị Lê Minh N1, sinh năm 1981 và anh Nguyễn Ngọc C, sinh năm 1980; địa chỉ: Số B, Hẻm F, Đường C, Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Nguyễn Ngọc Â, sinh năm 1982. Địa chỉ: Số A, hẻm F, đường C, Khu phố D, Phường C, TP T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chị Phạm Thị Hồng M1, sinh năm 1972 và anh Dương Văn A, sinh năm 1973; trú tại: Tổ H, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Người kháng cáo: anh Đào Thanh Hải, chị Lê Minh T (nguyên đơn, bị đơn).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 18 tháng 10 năm 2022, đơn khởi kiện bổ sung ngày 14-11-2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Đào Thanh H trình bày:
Anh Đào Thanh H và chị Lê Minh T là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 24/2022/HNGĐ-ST ngày 10-6-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, phần tài sản trong thời kỳ hôn nhân của anh chị chưa được giải quyết. Nay anh H yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung của vợ chồng như sau:
- Diện tích đất 720 m², tại thửa số 118, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có nhà cấp 4, diện tích xây dựng 110,8 m², diện tích sàn 110,8 m². Xây dựng hoàn thành năm 2009 (hiện chị T đang quản lý, sử dụng).
- Diện tích đất 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh (chưa sử dụng).
- Diện tích đất 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh (chị N1, anh C đang quản lý sử dụng).
Tất cả 03 phần đất trên hiện anh và chị T đang đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ( viết tắt là GCNQSDĐ).
- Vốn kinh doanh căn tin Câu lạc bộ quân nhân tại Sư đoàn E số tiền 715.000.000 đồng.
- 01 xe ô tô du lịch chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số: 70A-098.32 do bà Lê Thị N (mẹ chị T) đứng tên và quản lý.
Toàn bộ tài sản trên anh H yêu cầu chia theo tỷ lệ 6:4, anh H được 6 phần và giao cho chị T 4 phần trong số tài sản chung trên. Anh H yêu cầu được nhận toàn bộ phần đất có căn nhà tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, anh H đồng ý giao tài sản bằng hiện vật còn lại cho chị T. Đối với số tiền 715.000.000 (bảy trăm mười lăm triệu) đồng anh H yêu cầu chia đôi và yêu cầu chị T trả lại số tiền 357.500.000 (ba trăm năm mươi bảy triệu năm trăm ngàn) đồng, vì số tiền này chính anh H đã nộp vào cho Trung đoàn 4 để chị T được kinh doanh căn tin và câu lạc bộ quân nhân tại Sư đoàn E trong thời kỳ hôn nhân, do thời điểm đó người thân của quân nhân khanh được đứng ra đấu thầu nên anh H mới nhờ chị Lý Ngọc G đứng tên hợp đồng giúp. Nay chị T vẫn đang tiếp tục kinh doanh căn tin này và sử dụng cơ sở vật chất do anh H tạo dựng ban đầu. Đối với số tiền thu được từ việc kinh doanh căn tin này và cơ sở vật chất của căn tin anh Hải khanh tranh chấp, không yêu cầu chia.
Bị đơn chị Lê Minh T và đại diện ủy quyền của chị T là anh Lê Văn Hiển T2 trình bày:
Thống nhất về việc chị T và anh Hải ly H1 theo bản án của Tòa như trình bày của anh H. Riêng về yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì chị T và đại diện uỷ quyền của chị trình chịy như sau:
Thống nhất tài sản chung của vợ chồng gồm:
- Diện tích đất 720 m², tại thửa số 118, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có nhà cấp 4, diện tích xây dựng 110,8 m², diện tích sàn 110,8 m². Xây dựng hoàn thành năm 2009 và diện tích đất 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Ngoài 2 phần đất trên vợ chồng khanh còn tài sản nào chung hết.
- Đối với diện tích đất 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, chị T và anh H đứng tên, hiện chị N1 (chị chị T) đang quản lý sử dụng, xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số: 70A-098.32 là của cha mẹ chị.
- Đối với số tiền đấu thầu kinh doanh căn tin trong Sư đoàn 5 số tiền 715.000.000 đồng thì chị T hoàn toàn khanh biết. Số tiền này là việc làm ăn giữa anh H và chị G, chị T chỉ là người tranh coi, buôn bán thuê cho chị G. Số tiền này khanh phải của chị T, anh H cũng khanh giao số tiền này cho chị. Chị khanh giao số tiền này cho trung đoàn mà là chị G trực tiếp giao. Sau khi ly hôn với anh H thì chị T mới trúng đấu thầu việc kinh doanh nên anh H yêu cầu chia số tiền này là khanh có chị Thư K đồng ý.
- Đối với yêu cầu của anh H về việc chia tài sản của vợ chồng thì anh H được hưởng 6 phần chị T được hưởng 4 phần thì chị Thư K đồng ý. Việc cùng nhau tạo ra của cải chung trong thời kỳ hôn nhân của vợ chồng thì canh sức đóng góp là ngang nhau, anh H đi làm kiếm tiền thì chị T cũng chăm lo cho gia đình, lo nuôi các con, buôn bán, chăn nuôi. Anh H là Quân nhân chuyên nhiệp nên lương thấp, thời gian trực lại nhiều, anh khanh có nhiều thời gian lo cho gia đình, vợ con. Mọi việc trong gia đình phần lớn là do chị T làm, từ việc chăm con, buôn bán, chăn nuôi nên để có được tài sản chung của vợ chồng thì canh sức đóng góp của chị T rất lớn. Chị T yêu cầu tài sản chung của vợ chồng chia đôi theo quy định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị N và ông Lê Hồng M trình bày: ông bà là mẹ ruột của chị T, nguồn gốc phần đất thửa 100, tờ bản đồ số 65, diện tích được cấp 81,20 m² tại Khu phố D, Phường C, thành phố T mà anh H cho rằng là tài sản chung của vợ chồng anh H và chị T là của vợ chồng con gái chị tên Lê Minh N1 và chồng Nguyễn Ngọc C. Do vợ chồng N1, C phải thi hành án số tiền 110.000.000 đồng nhưng không có tiền trả nên bị Chi cục Thi hành án thành phố Tây Ninh phát mãi tài sản trả nợ. Năm 2015, ông bà phải bỏ ra số tiền trên để trả nợ và lấy GCNQSDĐ của N1, C ra, bà N là người mang tiền lên Thi hành án nộp nhưng nhờ chị T giao số tiền 110.000.000 đồng cho Chấp hành viên. Sau khi lấy giấy đất ra thì vợ chồng N1 đồng ý chuyển nhượng phần đất này cho vợ chồng bà để trừ nợ. Do vợ chồng bà lớn tuổi, chị T lúc này đang sống chung với vợ chồng bà nên vợ chồng bà nhờ T, H đứng tên quyền sử dụng đất giúp. Sự việc này chỉ có vợ chồng N1 và vợ chồng T biết, ngoài ra không ai biết, vì mẹ con với nhau nên bà không làm giấy tờ gì. Trên phần đất này có căn nhà của vợ chồng C, N1. Khi chị mua nhà đất có thoả thuận sẽ cho vợ chồng C chuộc lại trong thời hạn 05 năm nên hiện tại vợ chồng C vẫn đang sử dụng nhà đất này.
- Ngày 20-3-2023, bà N có đơn khởi kiện độc lập.,yêu cầu vợ chồng anh H chị T trả lại phần đất và căn nhà trên đất cho ông bà.
- Đối với chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số: 70A-098.32 là của vợ chồng bà mua của bà Võ Thị T3, xe do bà là Lê Thị N đứng tên xe và ông Lê Hồng M là chồng bà sử dụng đến hiện nay, bà không đồng ý chia chiếc xe trên theo yêu cầu của anh H
- Chị Lê Minh N1 và anh Nguyễn Ngọc C trình bày: phần đất diện tích 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65 có nguồn gốc là của vợ chồng chị được ba mẹ anh C cho trong thời kỳ hôn nhân. Do anh C làm ăn thất bại có nợ và phải thi hành án của 2 bản án tổng số tiền là 150.000.000 đồng. Thi hành án Thành phố T đã ra quyết định cưỡng chế thi hành và kê biên nhà và đất trên, thi hành án xác định đây là tài sản chung của vợ chồng, một nửa tài sản này là của anh C trị giá 110.000.000 đồng. Do không có tiền trả nên vợ chồng chị vay của bà N số tiền 110.000.000 đồng nộp vào thi hành án và lấy giấy đất ra, trước đó anh C có vay trước của bà N để làm ăn số tiền vay là 110.000.000 đồng nên vợ chồng chị N1 anh C đồng ý sang nhượng lại cho bà N, ông M để được chuộc lại nhà đất và được ở trên nhà đất trên. Hiện vợ chồng chị vẫn đang ở trên nhà đất này.
Do cha mẹ chị già yếu đi lại bất tiện nên nhờ vợ chồng anh H, chị T đứng tên hộ giấy đất trên.
Nay anh H khởi kiện cho rằng phần đất này là tài sản chung của vợ chồng anh là không đúng. Chị yêu cầu chị T, anh H trả lại giấy đất trên cho cha mẹ chị.
- Anh Dương Văn A và chị Phạm Thị Hồng M1 trình bày: anh, chị là vợ chồng có mua của đất giáp ranh với đất của anh H, chị T đang tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, đã được cấp GCNQSDĐ vào năm 2019, khi mua đất thì trên đất đã có trụ ranh hàng rào sẵn. Nay theo sơ đồ hiện trạng sử dụng đất được đo vẽ thì trong đó có 12 m² anh H, chị T đang sử dụng qua phần đất của anh chị. Nay anh chị khanh tranh chấp diện tích đất này.
- Theo chị Nguyễn Ngọc  trình bày: chị là em ruột của anh Nguyễn Ngọc C chồng chị N1, phần đất đang tranh chấp toạ lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh có nguồn gốc là của cha mẹ chị cho chị và anh C. Anh C xây nhà ở, vì là anh em ruột nên chị cho anh C mượn vách tường anh, em xài chung vách, các bên tranh chấp phần đất này có 01 phần diện tích xây qua đất của chị  theo như hiện trạng sơ đồ đã vẽ trong hồ sơ.
Nay chị không tranh chấp đất trong vụ án này.
* Tại Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, đã quyết định:
Căn cứ các điều 33, 59, 62, 63 và 64 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 166, và 468 của Bộ luật Dân sự; các điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đào Thanh H về việc yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng sau khi ly hôn đối với chị Lê minh T.
Xác định tài sản chung của anh H chị T gồm:
- + Diện tích được cấp 720 m², tại thửa số 118, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có nhà cấp 4, diện tích xây dựng 110,8m2, diện tích sàn 110,8m². Hoàn thành xây dựng năm 2009 và các tài sản khác gắng liền trên đất, trị giá nhà, đất là 1.825.121.300 đồng.
- + Diện tích được cấp 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh, đất trị giá 1.232.512.000 đồng;
- + Diện tích được cấp 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có căn nhà cấp 4 cũ. Tổng giá trị đất và tài sản gắn liền với đất, công trình phụ là 786.165.920 đồng.
Tổng giá trị tài sản chung anh H, chị T là 3.843.799.000 (ba tỷ tám trăm bốn mươi ba triệu bảy trăm chín mươi chín ngàn) đồng, mỗi người được hưởng 1/2 là 1.921.899.600 đồng. Chia cu thể như sau:
- Anh Đào Thanh H được quyền quản lý, sử dụng và sở hữu tài sản là diện tích đất 720m², tại thửa số 118, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trên đất có nhà cấp 4, diện tích xây dựng 110,8m², diện tích sàn 110,8 m² và các tài sản khác gắn liền trên đất.
- Chị Lê Minh T được quản lý, sử dụng, sỡ hữu các tài sản gồm:
- + Phần đất có diện tích được cấp 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh và Phần đất có diện tích được cấp 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có căn nhà cấp 4 cũ.
Chị T có trách nhiệm giao trả lại cho anh H số tiền 96.778.000 (chín mươi sáu triệu bảy trăm bảy mươi tám ngàn) đồng tiền chênh lệch giá trị của các tài sản.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh H về việc chia tài sản chung là chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số 70A-098.32 hiện do chị Lê Thị N đứng tên và số tiền 715.000.000 đồng đưa vào kinh doanh và tiền thu lợi nhuận từ việc kinh doanh.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của chị Lê Thị N về đòi tài sản là phần đất có diện tích được cấp 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có căn nhà cấp 4 cũ.
- Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.
- Ngày 10/8/2024, chị T kháng cáo: yêu cầu chia cho chị diện tích đất 720 m², tại thửa số 118, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, đất này có nhà 03 mẹ con chị ở, sinh hoạt từ trước đến nay, anh H là quân nhân nay đã chuyển về tỉnh Long An công tác (cũng là quê anh H), đề nghị giao phần đất toạ lạc tại ấp T cho anh H sử dụng (đất trống).
- Ngày 12/8/2024, anh H kháng cáo: yêu cầu chia cho anh xe ô tô và vốn kinh doanh căn tin câu lạc bộ quân nhân tại Sư đoàn E số tiền 715.000.000 đồng. Yêu cầu chia tài sản theo tỷ lệ 6/4 do anh đóng góp nhiều hơn vào giá trị khối tài sản chung.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Chị T trình bày: giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
* Phần tranh luận
- Anh T2 (đại diện chị T trình bày): chiếc xe e ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số: 70A-098.32 là của bà N, ông M1. Không có căn cứ cho rằng xe này của anh H.
- Số tiền 715.000.000 đồng đưa vào kinh doanh căn tin anh H không có chứng cứ chứng minh.
- Căn nhà cấp 4 xây dựng trên diện tích đất 720 m², tại thửa số 118, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh, nhà này 03 mẹ con chị ở, sinh hoạt từ trước đến nay, anh H là quân nhân nay đã chuyển về tỉnh Long An công tác (cũng là quê anh H), đề nghị giao phần đất toạ lạc tại ấp T cho anh H sử dụng (đất trống) là phù hợp.
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của chị T.
Bà N: chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số: 70A-098.32 là của vợ chồng bà mua có giấy tờ mua bán. Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh H.
* Ý kiến của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
- Về tố tụng: việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng quy định pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật.
- Về nội dung:
- Kháng cáo của ông H về số tiền vốn 715.000.000 đồng đưa vào kinh doanh căn tin anh H không có chứng cứ chứng minh, 01 chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số 70A-098.32 là của vợ chồng bà N, mua có giấy tờ mua bán anh H không có chứng cứ chứng minh.
- Về tỉ lệ phân chia tài sản 6:4: nhận thấy các bên không chứng minh được tỷ lệ đóng góp để tạo nên các tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, tuy nhiên ông H công tác tại cơ quan thì bà T cũng có kinh doanh, tích góp, chăm lo con cái nên vợ chồng đều có công sức đóng góp như nhau trong khối tài sản chung, do đó Tòa án cấp sơ thẩm chia đôi là phù hợp.
- Đối với kháng cáo của bà T yêu cầu phân chia lại tài sản chung, thấy rằng: hiện tại nhà đất tại xã Đ, huyện C, bà T cùng 02 con gái đang sinh sống, nhằm ổn định chỗ ở, tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của 02 con chung, không làm xáo trộn cuộc sống nên việc bà T yêu cầu được nhận tài sản là nhà đất tại xã Đ, huyện C là phù hợp. Mặc khác, ông H đã chuyển công tác về tỉnh Long An, không có nhu cầu sử dụng nhà. Do đó, đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà T.
- Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Đề nghị không chấp nhận kháng cáo của anh Đào Thanh Hải; chấp nhận kháng cáo của chị Lê Minh T; sửa bản án sơ thẩm số 72/2024/HN-ST ngày 29/7/2024 của TAND huyện Châu Thành, chia lại tài sản chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến Đại diện Viện Kiểm sát, xét kháng cáo của đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: chị T, ôn H kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Anh H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: anh Đào Thanh H và chị Lê Minh T là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 24/2022/HNGĐ-ST ngày 10-6-2022 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, vợ chồng có 02 người con là Đào Lê Minh Q, sinh năm 2002 (sinh viên), Đào Lê Hải Y, sinh 2008 hiện đang theo sống với chị T. Tài sản chung chưa giải quyết. Nay anh H yêu cầu chia tài sản chung gồm:
- Nhà đất diện tích 720 m² thửa 118, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh;
- Diện tích đất 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh;
- Nhà đất diện tích 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
- Tiền vốn 715.000.000 đồng kinh doanh căn tin Câu lạc bộ quân nhân trong tại Sư đoàn E).
- 01 xe ô tô du lịch 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số 70A-098.32 do chị Lê Thị N (mẹ chị T) đứng tên.
Chị T chỉ thừa nhận 02 phần đất, thửa 71, 118 là của vợ chồng, không thừa nhận tiền vốn kinh doanh căn tin, còn thửa 100 và xe ô tô biển số 70A-098.32 là của cha mẹ chị (bà Lê Thị N).
Cấp sơ thẩm xác định tài sản chung của chị T, anh H gồm có 03 phần đất gồm các thửa 71, 100 và 118.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của anh H, chị T.
[3.1] Đối kháng cáo của anh H:
- Xe ô tô du lịch chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số 70A-098.32 do chị Lê Thị N (mẹ chị T) đứng tên, anh H cho rằng tài sản chung của anh và chị T, chị T không thừa nhận, anh H không có chứng cứ chứng minh, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Đối với số vốn kinh doanh căn tin Câu lạc bộ quân nhân tại Sư đoàn E. Anh H cho rằng của vợ chồng anh bỏ ra số tiền 715.000.000 đồng, nhờ chị G đứng ra đấu thầu từ năm 2021 (vì thân nhân của quân nhân không tham gia đấu thầu được). Qua làm việc, chị G trình bày có thay vợ chồng anh H, chị T đứng ra đấu thầu kinh doanh căn tin. Theo đó, người kinh doanh trả tiền thuê căn tin trả hàng năm cho Sư đoàn là 680.000.000 đồng/năm, tiền cơ sở vật chất trả cho chủ cũ (chị Đặng Thu T4) là 375.000.000 đồng. Anh H có giao cho chị số tiền 715.000.000 đồng để nộp tiền thuê nửa năm (6 tháng) là 340.000.000 đồng, trả tiền cơ sở vật chất trả cho chủ cũ là 375.000.000 đồng. Hợp đồng có giá trị 01 năm. Cuối năm 2022, hợp đồng kết thúc, đầu năm 2023 chị G lên Sư đoàn làm thủ tục giao lại cơ sở vật chất, lãnh đạo Sư đoàn E nói là “năm nay không đấu thầu nữa mà chỉ định chị tiếp tục kinh doanh” nhưng chị không nhận và giao lại cho việc thuê căn tin nêu trên cho chị T vì thời điểm này anh H và chị T đã ly hôn nên chị T đủ điều kiện đứng ra kinh doanh. Như vậy, việc anh H, chị T có kinh doanh căn tin Câu lạc bộ quân nhân tại Sư đoàn 5 thông qua chị G và có bỏ số tiền vốn 715.000.000 đồng. Tuy nhiên, căn tin này chị T kinh doanh lúc chị và anh H đang còn quan hệ hôn nhân (đến tháng 6/2022 vợ chồng ly hôn). Số tiền thuê căn tin 340.000.000 đồng/6 tháng thanh toán đủ tại thời điểm vợ chồng chưa ly hôn. Đối với số tiền 375.000.000 đồng trả cho chị T4 để mua lại cơ sở vật chất cũng như quá trình kinh doanh của chị T, anh H không có chứng cứ xác định việc kinh doanh của chị T có lãi hay không, giá trị cơ sở vật chất còn lại là bao nhiêu, tại cấp sơ thẩm anh H không yêu cầu chia lợi nhuận trong kinh doanh căn tin này nên kháng cáo của anh H yêu cầu chia số tiền 715.000.000 đồng vốn kinh doanh căn tin là không có căn cứ. Hội đồng xét xử không chấp nhận.
- Đối với kháng cáo yêu cầu chia tài sản chung cho anh nhiều hơn chị T (tỷ lệ 6/4), thấy rằng: trong quá trình giải quyết anh H không có chứng cứ chứng minh công sức anh bỏ ra đóng góp hình thành tài sản chung nhiều hơn chị T nên cấp sơ thẩm nhận định công sức đóng góp của chị T, anh H ngang nhau và giải quyết chia đôi tài sản chung là có căn cứ. Kháng cáo phần này của anh H không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3.2] Đối kháng cáo của chị T, yêu cầu được chia nhà đất thửa 118, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh thấy rằng:
Sau khi vợ chồng anh H, chị T ly hôn, thì căn nhà xây dựng trên thửa 118 là nơi sinh hoạt của chị T và các con. Anh H là quân nhân hiện đã chuyển công tác về Long An. Cấp sơ thẩm giao nhà đất thửa 118 (tại C) cho anh H là không hợp lý, các con chị T có đơn đề nghị được tiếp tục sinh sống tại căn nhà này do căn nhà tại Khu phố D, Phường C nhỏ hẹp, chật chội (diện tích xây dựng 32 m²) . Do đó, chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị T; chia cho chị T được sở hữu và sử dụng diện tích đất 720 m² thửa số 118, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh; trên đất có nhà cấp 4, diện tích xây dựng 110,8 m², diện tích sàn 110,8 m², các tài sản khác gắn liền trên đất trị giá là 1.825.121.300 đồng và diện tích đất 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có căn nhà cấp 4 cũ diện tích 32 m² (hiện chị N1, anh C đang quản lý, sử dụng), giá trị đất và tài sản gắn liền với đất, công trình phụ là 786.165.920 đồng. Tổng số tài sản chị T được chia trị giá 2.611.287.220 đồng.
- Anh H được sử dụng diện tích đất 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh. Trị giá thành tiền 1.232.512.000 đồng.
- Chị T có nghĩa vụ thanh toán cho anh H tiền chênh lệch chia tài sản chung là 689.387.620 đồng; viết tròn số là 689.387.000 đồng.
Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của anh H, chấp nhận kháng cáo của chị T; sửa án sơ thẩm.
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm:
[5.1] Anh H, chị T phải chịu án phí của phần tài sản chung được chia theo quy định tại điểm b khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Cụ thể: giá trị tài sản được mỗi người chia là 1.921.899.600 đồng phải chịu án phí là 36.000.000 đồng + (1.121.899.600 đồng x 3%) = 69.656.988 đồng; viết tròn số là 69.657.000 đồng.
[5.2] Bà N là người cao tuổi được miễn án phí.
[6] Án phí dân sự phúc thẩm: kháng cáo của anh H không được chấp nhận, phải chịu án phí 300.000 đồng. Kháng cáo của chị T được chấp nhận nên chị T không phải phải chịu án phí theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 29 của Nghị quyết 326.
[7] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[8] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn khoản 1 Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Không chấp nhận kháng cáo của anh Đào Thanh Hải;
Chấp nhận kháng cáo của chị Lê Minh T.
Sửa Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 72/2024/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ các điều 33, 59, 62, 63 và 64 của Luật Hôn nhân và gia đình, Điều 166, và 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26, 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Đào Thanh H về việc yêu cầu chia tài sản chung sau khi ly hôn đối với chị Lê Minh T. Chia tài sản chung của anh H và chị T như sau.
1.1. Chị Lê Minh T được sở hữu và sử dụng 02 phần đất cụ thể:
- Diện tích đất 720 m² thửa số 118, tờ bản đồ số 19, tọa lạc tại ấp C, xã Đ, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CH01898/001604.CN.VP do UBND huyện C cấp cho anh H, chị T ngày 08-5-2013, trên đất có nhà cấp 4, diện tích xây dựng 110,8 m², diện tích sàn 110,8 m², các tài sản khác gắn liền trên đất (nhà đất này hiện chị T đang quản lý sử dụng), tứ cận:
Đông giáp thửa 916 dài 16,06m; Tây giáp đường sỏi dài 11,06m, 4,66m;
Nam giáp thửa 917 dài 17,64m, 27,37m, 3,03m; Bắc giáp thửa số 141 dài 49,02m.
- Diện tích đất 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CS03778 do Sở T5 cấp cho anh H, chị T ngày 04-6-2015, trên đất có căn nhà cấp 4 cũ diện tích 32 m², công trình phụ, tài sản gắn liền với đất, tứ cận:
Đông giáp (thửa 101) dài 16,20 m; Tây giáp thửa 68 dài 16,25 m;
Nam giáp đường bê tông dài 05m; Bắc giáp (thửa số 117) dài 05 m.
Nhà đất này hiện chị Lê Minh N1 và anh Nguyễn Ngọc C đang quản lý, sử dụng. Vợ chồng chị N1 anh C phải có nghĩa vụ giao lại chị T.
1.2. Anh Đào Thanh H được sử dụng diện tích đất 280 m², tại thửa số 71, tờ bản đồ số 34, tọa lạc tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: H00272/166/2005/HĐ-CN HL do UBND huyện C cấp cho anh H, chị T ngày 24-3-2005, tứ cận:
Đông giáp (thửa 442) dài 40,60 m; Tây giáp (thửa 1555) dài 13,03 m, 14,05 m; 7,07 m; 6,48m; Nam giáp đường nhựa dài 07 m; Bắc giáp (thửa 408) dài 5,53 m.
Các đương sự căn cứ quyết định của bản án này, có quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền, đăng ký biến động, xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các diện tích đất được chia theo quy định của pháp luật.
1.3. Chị Lê Minh T có nghĩa vụ thanh toán cho anh Đào Thanh H giá trị chênh lệch chia tài sản chung số tiền là 689.387.000 (sáu trăm tám mươi chín triệu ba trăm tám mươi bảy nghìn) đồng.
Kể từ ngày anh H có đơn yêu cầu thi hành án, nếu chị T không chịu nộp số tiền nêu trên, thì hàng tháng chị T còn phải chịu thêm số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Đào Thanh H về việc chia tài sản chung là chiếc xe ô tô 7 chỗ, nhãn hiệu Ford, màu đen, biển số: 70A-098.32 hiện do chị Lê Thị N đứng tên và số tiền 715.000.000 đồng vốn đưa vào kinh doanh căn tin Câu lạc bộ quân nhân tại Sư đoàn E.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện độc lập của bà Lê Thị N về đòi phần đất diện tích 81,20 m², tại thửa số 100, tờ bản đồ số 65, tọa lạc tại Khu phố D, Phường C, thành phố T, tỉnh Tây Ninh, trên đất có căn nhà cấp 4 cũ, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ: CS03778 do Sở T5 cấp cho anh H, chị T ngày 04-6-2015.
4. Chi phí tố tụng: chị Lê Minh T có nghĩa vụ hoàn trả cho anh Đào Thanh H chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản số tiền 11.900.000 (mười một triệu chín trăm ngàn) đồng.
5. Về án phí dân sự sơ thẩm:
5.1. Chị Lê Minh T phải chịu số tiền 69.653.700 (sáu mươi chín triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm) đồng.
5.2. Anh Đào Thanh H phải chịu số tiền 69.653.700 (sáu mươi chín triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm) đồng nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí anh H đã nộp 19.000.000 (mười chín triệu) đồng theo các B lại thu số 0008560 ngày 21-11-2023 và biên lại thu số 0001421 ngày 19-10-2022 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh; anh H còn phải nộp thêm 50.653.700 (năm mươi triệu sáu trăm năm mươi ba ngàn bảy trăm) đồng.
5.3. Bà Lê Thị N được miễn án phí.
6. Về án phí dân sự phúc thẩm:
6.1. Chị Lê Minh T không phải chịu. Hoàn trả chị T số tiền 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền số 0009620 ngày 12/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành.
6.2. Anh Đào Thanh H phải chịu số tiền 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí anh H đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0009629 ngày 15/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành; ghi nhận anh H đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
7. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
. Nơi nhận: - TAND CC; - VKSNDCC; - TAND h. Châu Thành; - VKSND h. Châu Thành ; - CC.THADS h. Châu Thành ; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Tâm |
Bản án số 37/2024/HNGĐ-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 37/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia tài sản sau khi ly hôn giữa anh H với chi th
