|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 37/2024/HC-ST Ngày: 29/8/2024 V/v: “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Hoài Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Công Thắng
Ông Nguyễn Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Kiều Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên toà: Bà Đặng Ngọc Hoài Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 8 năm 2024, với điểm cầu trung tâm tại Toà án nhân dân thành phố Đà Nẵng và điểm cầu thành phần tại Trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 09/2024/TLST-HC ngày 03/5/2024; Thụ lý bổ sung 384/2024/TLST-HC ngày 30/7/2024 về việc “Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 186/2024/QĐXXST-HC ngày 12/7/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 211/2024/QĐST-HC ngày 30/7/2024; Thông báo số 874/TB-TA ngày 12/8/2024 về việc thay đổi hình thức xét xử vụ án hành chính từ xét xử trực tiếp sang hình thức trực tuyến, giữa các đương sự:
* Người khởi kiện: Bà Trần Thị Kim L, sinh năm: 1969; Địa chỉ: Tổ 39, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Ngọc H, sinh năm: 1982; Địa chỉ: 451/18 T, phường Hoà An, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
* Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân (UBND) huyện H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ: Trung tâm hành chính huyện H, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Văn T - Chức vụ: Chủ tịch UBND huyện Hòa Vang. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Chủ tịch UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng Địa chỉ: Trung tâm hành chính huyện H, thành phố Đà Nẵng có: Ông Phan Văn T - Chức vụ: Chủ tịch. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
UBND thành phố Đ; Địa chỉ: Số 24 T, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
+ Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Võ Huy T - Chức vụ: Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện H, thành phố Đà Nẵng; Địa chỉ: Trung tâm hành chính huyện H, xã Hòa Phong, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
-
Chánh thanh tra thành phố Đ. Địa chỉ: Trung tâm hành chính thành phố Đà Nẵng, số 24 T quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng.
+ Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Thị Hồng  - Chức vụ: Phó chánh Thanh tra thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, đơn sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện, đơn trình bày ý kiến, trong quá trình tố tụng và tại phiên toà, đại diện theo uỷ quyền của người khởi kiện là ông Võ Ngọc H trình bày:
Ngày 30/9/2010, ông Trần Văn Minh đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị Kim L thửa đất số 759, tờ bản đồ số 09, diện tích 161m², thôn Quan Châu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng. Ngày 08/10/2010, UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (viết tắt là GCNQSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất) số BC 990005; số vào sổ cấp CH02042 tại thửa đất số 1957, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Thôn Quan Châu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, diện tích 161m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài cho bà Trần Thị Kim L.
Ngày 05/10/2011, Chủ tịch UBND huyện H ra Thông báo số 130/TB-UBND về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng, nhượng quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐất) tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương; trong đó có nội dung liên quan đến bà Trần Thị Kim L tại số thửa 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu.
Ngày 12/10/2011, UBND huyện H ra Quyết định số 8670/QĐ-UBND về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 23/6/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (trước khi cấp GCNQSDĐất thì có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất từ đất nông nghiệp sang đất ở).
Ngày 13/7/2012, UBND huyện H ra Quyết định số 2663/QĐ-UBND về việc thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐ, QSHN ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005; số vào sổ cấp CH02042 tại thửa đất số 1957, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Thôn Quan Châu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, diện tích 161m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài. Trong khi lô đất này bà tích góp tiền từ rất lâu và vay mượn từ người thân trong gia đình, để mua và có chỗ ở an cư lạc nghiệp.
Lý do huỷ giấy chứng nhận nói trên: Theo Kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 của Thanh tra thành phố Đ đã kết luận tại thời điểm UBND huyện H có quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và cấp GCNQSDĐất cho thửa đất của bà Trần Thị Kim L, UBND huyện H chưa xem xét phù hợp với quy hoạch, không xem xét đến chủ trương quy hoạch Khu đô thị Tây Nam thành phố (đối với các xã Hòa Châu, Hòa Tiến, Hòa Phước).
Đến ngày 16/8/2017, Chủ tịch UBND huyện H tiếp tục ra Thông báo số 163/TB-UBND về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng, nhượng quyền sử dụng đất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương; trong đó có thửa số 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu cho bà Trần Thị Kim L.
UBND thành phố Đ đã có Công văn số 2093/UBND-QLĐTh ngày 25/3/2016 về việc liên quan đến các hộ dân có đất tại thôn Quang Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang hiện không còn bị nằm trong quy hoạch và theo đó, UBND thành phố đồng ý cho phép UBND huyện H giao đất lại cho các hộ trước đây theo vị trí tương ứng mà các hộ đã được cấp GCNQSDĐất.
Sau nhiều lần đến nhiều cơ quan chức năng, bỏ công sức đi nhiều năm kêu cứu khắp nơi từ UBND thành phố đến Văn phòng UBND huyện H. Đến ngày 16/4/2013, bà L nhận được văn bản của UBND thành phố Đ số 823/VP-NCPC về việc thông báo ý kiến chỉ đạo của Chủ tịch UBND thành phố là đồng ý điều chỉnh quy hoạch tại khu vực này theo hướng chỉnh trang đô thị đối với các trường hợp có nhu cầu sử dụng đất thực sự và đã xây dựng nhà ở ổn định mà không ảnh hưởng đến quy hoạch chung của địa phương.
Ngày 20/02/2014, UBND thành phố Đ có Văn bản số 1315/UBND-QLĐTh về việc liên quan đến lập quy hoạch khu dân cư để bố trí đất cho dân tại thôn Quan Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang.
Đến ngày 05/03/2021, UBND huyện H có Thông báo số 84/BC-UBND nêu lên một số vướng mắc trong công tác giao đất, cấp GCNQSDĐất đối với các lô đất thuộc KDC thôn Quang Châu, xã Hòa Châu huyện Hòa Vang.
Ngày 12/03/2021, Văn phòng UBND thành phố Đ có Phiếu chuyển số 668/PC-VP về báo cáo số 84/BC-UBND ngày 05/03/2021 của UBND huyện H.
Sau 10 năm gửi đơn khiếu nại, kiến nghị và cầu cứu đến các cơ quan chức năng của thành phố Đà Nẵng và UBND huyện H, bà L có một số thắc mắc sau:
Thứ nhất: đối với KDC thôn Quang Châu, xã Hòa Châu, huyện Hòa Vang đã có bản quy hoạch chi tiết 1/500 cho khu vực này đã được phê duyệt tổng thể của thành phố Đà Nẵng.
Thứ hai: Trong khi tuổi cao sức yếu, bà đã dành dụm, vay mượn để mua được mảnh đất nêu trên theo đúng như quy định của Nhà nước, thì tại sao UBND huyện H đã thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐất của bà và không cấp phép sử dụng đất và xây dựng nhà ở. Như vậy, bà cùng gia đình sẽ không có cơ hội ổn định cuộc sống và mưu cầu hạnh phúc với căn nhà trên mảnh đất đó. Trong khi mảnh đất nêu trên là tài sản của bà Loan.
Bà L đã kêu cứu, kiến nghị rất nhiều lần nhưng không ai chịu trách nhiệm trong vấn đề này. Như vậy, quyền lợi hợp pháp của bà L đã bị xâm hại nghiêm trọng hơn 10 năm nay nhưng không được giải quyết. Việc này ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của gia đình, nên bà gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết về việc:
- Hủy bỏ Quyết định số 2663/QĐ-UBND của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện H cấp ngày 08/10/2010.
- Hủy bỏ một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và Thông báo 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của UBND huyện H về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng, nhượng quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Ninh, Hòa Phú và Hòa Khương đối với bà Trần Thị Kim Loan, số thửa 1957, số tờ bản đồ 9, diện tích 161m² tại Hòa Châu, số giấy chứng nhận BC 990005 cấp ngày 08/10/2010 số vào sổ CH02042.
Ngày 30/7/2024, người khởi kiện bổ sung yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
- Hủy Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
- Hủy một phần Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân huyện H, thành phố Đà Nẵng về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương; trong đó có thửa số 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu cho bà Trần Thị Kim L.
Ngày 16/8/2024, ông Võ Ngọc H là đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút một phần nội dung yêu cầu khởi kiện, cụ thể:
- Rút yêu cầu hủy bỏ một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 của Chủ tịch UBND huyện H Vang về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng, nhượng quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Ninh, Hòa Phú và Hòa Khương đối với bà Trần Thị Kim L, số thửa 1957, số tờ bản đồ 9, diện tích 161m² tại Hòa Châu, số giấy chứng nhận BC 990005 cấp ngày 08/10/2010 số vào sổ CH02042.
- Rút yêu cầu hủy một phần Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của Chủ tịch UBND huyện H về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương; trong đó có thửa số 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu cho bà Trần Thị Kim L.
Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử có kiến nghị trong bản án yêu cầu Chủ tịch UBND huyện H thu hồi, huỷ bỏ một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và một phần Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 đối với nội dung liên quan đến hộ gia đình bà Trần Thị Kim L.
* Tại phiên tòa người bị kiện vắng mặt, tuy nhiên quá trình tham gia tố tụng có Văn bản trình bày ý kiến số 1882/UBND-TNMT ngày 24/6/2024 như sau:
Bà Trần Thị Kim L là một trong các hộ sử dụng đất có nguồn gốc là thửa đất số 759, tờ bản đồ số 09, xã Hòa Châu (theo Bản đồ 64/CP), thuộc 65 lô thôn Quang Châu, xã Hòa Châu.
Nguyên 65 lô đất tại thôn Quang Châu, xã Hòa Châu đã được UBND huyện H cho phép chuyển mục đích sử đụng đất, thu tiền sử dụng đất và cấp GCNQSDĐ (trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến 2010).
Theo Kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 của Thanh tra thành phố Đ thì “Đối với các trường hợp được chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592, 162 tờ bản đồ số 9, tại thôn Quang Châu, xã Hòa Châu với diện tích đất lớn giao cho nhiều hộ sản xuất, không có quy hoạch đất ở nhưng UBND huyện Hòa Vang cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đồng loạt. Trong sơ đồ kèm theo GCNQSDĐ cấp khi còn sử dụng mục đích trồng cây hàng năm đều chung một thửa lớn, vì vị trí ranh giới đất giữa các hộ không xác định được. Nhưng trong hồ sơ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã thể hiện vị trí sử dụng đất của từng hộ, sơ đồ đã được quy hoạch thành các lô, thể hiện diện tích từng lô, có chừa đường đi, không có sự thỏa thuận giữa các hộ về diện tích đất mở đường đi, không có thủ tục xin phép UBND huyện thu hồi để sử dụng vào mục đích đường đi. Việc xác định vị trí thửa đất của từng hộ cũng như việc xác định phần diện tích chừa lối đi của từng hộ như trên là không đủ cơ sở pháp lý. Do đó, đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở không đúng quy định: đề nghị UBND huyện Hòa Vang lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ 65 quyết định cho phép chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592, 162, tờ bản đồ số 9, tại thôn Quang Châu, xã Hòa Châu, lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ các GCNQSDĐ tại các thửa đất trên”.
Thực hiện Kết luận 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011, UBND huyện H đã ban hành Quyết định thu hồi, hủy bỏ quyết định chuyển mục đích và GCNQSDĐ của các hộ nêu trên và ban hành Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011; Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một số GCNQSDĐất tại các xã: Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Ninh, Hòa Phú và Hòa Khương, cụ thể:
- Đối với bà Trần Thị Kim L:
- Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
- Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 08/10/2010.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:
- Thanh tra thành phố Đ trình bày tại Văn bản trình bày ý kiến số 788/TTTP-TT2 ngày 23/8/2024 V/v liên quan nội dung Kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 và tại phiên toà bà Nguyễn Thị Hồng  đại diện theo ủy quyền trình bày như sau:
Qua rà soát nội dung Kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 của Chánh Thanh tra thành phố về việc thanh tra việc chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nuóc về quy hoạch và quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn huyện Hoa Vang, thành phố Đà Nẵng, Thanh tra thành phố có ý kiển nhu sau:
1. Tại Phần C Kết luận thanh tra có nêu
a) Về nội dung phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng dất của UBND huyện Hòa Vang (cũ) và tính phù hợp với định hướng quy hoạch của thành phố
- Về việc UBND huyện không lập kế hoạch sử dụng đất chi tiết hằng năm theo trình tự thủ tục quy định mà chỉ có báo cáo tình hình sử dụng đất năm trước và kê hoạch sử dụng đất năm sau là chưa đúng quy định của pháp luật về đất đai. Do đó chưa tạo ra cơ sở pháp lý để UBND huyện quy hoạch chi tiết bố tri đất ở, giao đất, cho thửa đất cũng như chuvển mục đích sử dụng đất trên dia bàn huyện.
Ngày 24/7/2003, UBND thành phố đã có Thông báo số 148/TB-VP về chủ truơng quy hoạch khu đô thị Tây Nam thành phố. Ngày 6/5/2004, Viện quy hoạch xây dựng Đà Nẵng có Đề cương số 42/NVAOH “Về nhiệm vụ dự án khảo sát quy hoạch chung”, được Chủ tịch UBND huyện H ký, Sở Xây dựng thẩm định và UBND thành phố phê duyệt, với pham vi nghiên cứu quy hoạch 6.000 ha gồm 6 xã: Hòa Thọ, Hòa Phát, Hòa Châu, Hòa Xuân, Hoa Tiến và xã Hòa Phước. Đề án được triển khai theo hợp đồng được ký kết giữa Phòng Kế hoạch - Đầu tư huyện Hòa Vang và Viện quy hoạch xây dựng Đà Nẵng. Tuy nhiên, UBND huyện H lại xác định các xã Hòa Phước, Hòa Châu và Hòa Tiến là xã không thuộc khu vực phát triển đô thị, tiến hành phê duyệt các kế hoạch sử dụng đất bố trí đất ở vá phê duyệt quy hoạch một số vị trí bố trí mặt bằng đất xây dựng nhà ở cho nhân dân trên địa bàn các xã trên mà không trình Sở Xây dựng và UBND thành phố xem xét là chưa thực hiện đúng chủ trương định hướng quy hoach của thành phố.
Đối với các dự án quy hoạch khu dân cư thuộc các xã Hòa Nhơn, Hòa Phong, Hòa Khương, Hòa Ninh, Hòa Son, Hòa Bắc tuy thuộc thẩm quyền của UBND huyện nhưng trong khi các xã này chưa lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết mà UBND huyện căn cứ Điều 22 của Luật đất đai, Điều 22 của Nghị định số 181/2004/ND-CP của Chính phủ và theo đề nghi của Đoàn kiểm tra liên ngành để ban hành các quyết định phê duyệt kế hoạch sử dụng đất để bố trí đất ở và phê duyệt quy hoạch bố trí mặt bằng đất, thu hồi giao đất cho nhân dân các xã trên xây dựng nhà ở là không đúng trình tự thủ tục lập và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sir dụng đất.
b) Đối với hồ sơ chuyển mục đích sử dụng đất
Trong quá trình lập thủ tục cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, Phòng Tài nguyên - Môi trường huyện chưa xem xét đến tính phù hợp với quy hoạch, không xem xét đến chủ trương quy hoach khu đô thị Tây Nam thành phố (đối với các xã Hòa Châu, Hòa Tiến, Hòa Phước) theo Thông báo số 148/TB-VP ngày 24/7/2003 cua UBND thành phố là không dúng quy định.
Việc cho phép chuyển mục đích chưa xem xét về nhu cầu cần thiết cùa hộ xin chuyển mục đích sang đất ở nên thực tế một số trường hợp cho chuyển mục đích một thửa đất lớn cho nhiều hộ hoặc một hộ chuyển nhiều lần mà hầu hết các khu đất được phép chuyển mục đích đều chưa sử dụng làm nhà ở, vẫn để nguyên trạng như trước khi được phép chuyển mục đích, sơ đồ thửa đất chỉ được vẽ trên giấy chứ chưa cắm mốc thực địa. Hầu hết sau khi được chuyển mục đích, các hộ đã chuyển nhượng lại cho người khác và có nhiều trường hợp đã chuyển đi chuyển lại nhiều lần. Điều đó chứng tỏ không có nhu cầu thực sự về chuyển mục đích sử dụng đất để làm nhà ở mà chủ yếu là để chuyển nhượng lại nhằm thu lợi.
Đối với các trường hợp được chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592. 162 tờ bản đồ số 9, tại thôn Quan Châu, xã Hòa Châu với diện tích đất lớn, cho nhiều hộ sản xuất, không có quy hoạch đất ở nhưng UBND huyện cho chuyển đất ở đồng loạt. Trong sơ đồ kèm theo GCNQSDĐất cấp khi còn sử dụng sử dụng mục đích đất trồng cây hàng năm đều chung một thửa lớn vì vị trí, ranh giới đất giữa các hộ không xác định được. Những trong hồ sơ cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đã thể hiện vị trí sử dụng đất của từng hộ, sơ đồ đã được quy hoạch thành các lô, thể hiện diện tích từng lô, có chừa đường đi, không có thủ tục xin phép UBND huyện thu hồi đất để sử dụng vào mục đích làm đường đi. Việc xác định vị trí thửa đất từng hộ cũng như việc xác định phần diện tích chừa lối đi của từng hộ như trên là không đủ cơ sở pháp lý.
Ngoài ra, một số hồ sơ tại thửa đất 592 và 162 được chuyển mục vào năm 2006 có thời điểm chuyển quyền sử dụng đất trước thời điểm được chuyển mục đích sử dụng nhưng UBND huyện H lại ban hành quyết định cho phép chuyển mục đích cho nguời sử dụng đất cũ là không đúng trình tự, thủ tục.
Có 03 trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất vào năm 2010 mà người xin chuyển đã chết trước thời điểm 2010 nhiều năm (trường hợp ông Trần Hoàng, chết năm 1999; ông Lâm Thanh Ký, chết năm 1999; ông Trần Tường chết năm 1997) nhưng UBND huyện vẫn lập thủ tục cho phép các ông trên chuyển mục đích sử dụng đất là không đúng quy định.
2. Tại Phần D Kết luận thanh tra kiến nghị như sau
Đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở không đúng quy định: Đề nghị UBND huyện H lập thủ tụe thu hồi, hủy bỏ toàn bộ 65 quyết định cho phép chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592, 162 tờ bản đồ số 9, tại thôn Quan Châu, xã Hòa Châu và 12 trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất từ đất rừng sang đất ở dã nêu ở trên, lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ các GCNQSDĐất tại các thửa đất trên và thực hiện việc thoái trả tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ theo quy định.
Từ những nội dung trên cho thấy: Việc UBND huyện H cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất ở đồng loạt như đã nêu tại Kết luận thanh tra là không đúng các quy định tại Điều 31 Luật Đất đai năm 2003 và Điều 28, Điều 30 Nghị định số 181/2004/ND-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật đất đai. Do đó, việc Thanh tra thành phố kiến nghị UBND huyện H lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ 65 quyết định cho phép chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592, 162 tờ bản đồ số 9, tai thôn Quan Châu, xã Hòa Châu và 12 trường hợp được chuyển mục đích sử dụng đất từ đất rừng sang đất ở đã nêu ở trên, lập thủ tục thu hồi hủy bỏ toàn bộ các GCNQSDĐất tại các thửa đất trên và thực hiện việc thoái trả tiền sử dụng đất, lệ phí trước bạ là phù hợp.
Vậy, Thanh tra thành phố trình bày ý kiến về Kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 như trên để Tòa án nghiên cứu, xem xét, giải quyết vụ việc theo quy định.
* Tại phiên tòa, ông Võ Huy T đại diện UBND thành phố Đ trình bày ý kiến như sau:
Hiện nay UBND thành phố đã phê duyệt Tổng mặt bằng quy hoạch chi tiết TL 1/500 Khu đất tại thôn Quang Châu trên cơ sở các thửa đất đã chuyển mục đích sử dụng đất trước đây. Tuy nhiên, do phát sinh nhiều nội dung vướng mắc nên đến nay vẫn chưa thực hiện được việc giao đất, cấp GCNQSDĐất lại cho các hộ dân. Vì vậy, UBND thành phố đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ việc theo quy định.
* Tòa án đã tiến hành tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và tiến hành đối thoại để các đương sự thống nhất với nhau về việc giải quyết vụ án nhưng không có kết quả.
* Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đúng trình tự quy định của pháp luật. Đối với các đương sự trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án đã thực hiện đúng quy định Luật Tố tụng hành chính.
+ Về tố tụng: Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 về chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước về quy hoạch và quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng do Chánh thanh tra ký ban hành, nên đề nghị Hội đồng xét xử thay đổi và xác định lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chánh Thanh tra thành phố Đ.
+ Về quan điểm giải quyết vụ án:
- Căn cứ vào: Khoản 2 Điều 165 Luật Tố tụng hành chính. Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về yêu cầu tuyên hủy một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của Chủ tịch UBND huyện H.
-
Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L về việc yêu cầu hủy:
- Huỷ bỏ Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
- Hủy bỏ Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện Hòa Vang cấp ngày 08/10/2010.
- Kiến nghị Chánh Thanh tra thành phố Đ hủy bỏ Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 đối với nội dung: “... Do đó, đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở không đúng qui định: đề nghị UBND huyện Hòa Vang lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ 65 quyết định cho phép chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592, 162 tờ bản đồ số 9, tại thôn Quang Châu, xã Hòa Châu, lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ các GCN QSDĐ tại các thửa đất trên”, vì không còn phù hợp với thực tế hiện nay.
- Kiến nghị Chủ tịch UBND huyện H thu hồi, hủy bỏ một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương đối với nội dung liên quan đến hộ bà Trần Thị Kim Loan tại thửa số 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu.
- Án phí hành chính sơ thẩm: Các đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào kết quả tranh tụng các chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa. Sau khi nghe lời trình bày của các bên đương sự và tranh luận tại phiên tòa. Sau khi nghe ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án, việc tuân thủ pháp luật của Hội đồng xét xử cũng như các bên đương sự trong quá trình tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng. Sau khi nghị án thảo luận, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Về thủ tục tố tụng:
- Đối với Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 về chấp hành chính sách, pháp luật của Nhà nước về quy hoạch và quản lý, sử dụng đất đai trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Theo khoản 12 Điều 2 Luật Thanh tra năm 2022 quy định “Kết luận thanh tra là văn bản do Thủ trưởng cơ quan thực hiện chức năng thanh tra ký ban hành để đánh giá, kết luận và kiến nghị về nội dung đã thanh tra”. Vì vậy, Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 thuộc thẩm quyền ký ban hành của Chánh Thanh tra. Do đó, Hội đồng xét xử thay đổi và xác định lại người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Chánh Thanh tra thành phố Đ.
- Về đối tượng, thẩm quyền khởi kiện:
- Về thời hiệu khởi kiện:
- Về nội dung:
- Bà Trần Thị Kim L cũng như ông Võ Ngọc H đại diện theo ủy quyền tại phiên tòa yêu cầu hủy Quyết định số 2663/QĐ-UBND và huỷ Quyết định số 8670/QĐ-UBND. Còn người bị kiện UBND huyện H và Chủ tịch UBND huyện H đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ việc để UBND huyện có cơ sở thực hiện các bước tiếp theo.
- Xét yêu cầu khởi kiện hủy các Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011; Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012, thì thấy:
- Đối với Kết luận thanh tra số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011, Hội đồng xét xử xét thấy nội dung: “... Do đó, đối với việc chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở không đúng qui định: đề nghị UBND huyện Hòa Vang lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ 65 quyết định cho phép chuyển mục đích tại các thửa đất 759, 592, 162 tờ bản đồ số 9, tại thôn Quang Châu, xã Hòa Châu, lập thủ tục thu hồi, hủy bỏ toàn bộ các GCNQSDĐ tại các thửa đất trên” là không còn phù hợp với thực tế hiện nay. Vì vậy, cân kiến nghị Chánh Thanh tra thành phố Đ hủy bỏ đối với nội dung này, theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có cơ sở.
- Đối với Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của Chủ tịch UBND huyện H về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với GCNQSDĐất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương; trong đó có thửa số 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu cho bà Trần Thị Kim L. Mặc dù ông Võ Ngọc H là đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút yêu cầu hủy một phần của hai Thông báo này đã rút yêu cầu đối với nội dung khởi kiện này, tuy nhiên Thông báo 130/TB-UBND và Thông báo 163/TB-UBND được ban hành sau khi UBND huyện H ban hành các Quyết định hủy GCNQSDĐất của bà Trần Thị Kim L theo kết luận của Thanh tra nhằm ngăn chặn người sử dụng đất thực hiện các quyền sử dụng đất sau khi đã bị hủy GCNQSDĐất. Vì có căn cứ hủy Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 và huỷ Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 nên GCNQSDĐất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện H cấp ngày 08/10/2012 cho bà Trần Thị Kim L có hiệu lực. Và người sử dụng đất phải được thực hiện các quyền của mình đối với GCNQSĐất đã có hiệu lực pháp luật.
Đối với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L đề nghị hủy một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của Chủ tịch UBND huyện H, sau khi Tòa án thụ lý bổ sung, ông Võ Ngọc H là đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện rút yêu cầu hủy một phần của hai Thông báo này. Xét thấy, việc rút yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L là tự nguyện nên được chấp nhận. Căn cứ khoản 2 Điều 165 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu này.
Tại phiên tòa, người bị kiện UBND huyện H và Chủ tịch UBND huyện H có văn bản đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ quy định tại Điều 157 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự nêu trên.
Bà Trần Thị Kim L khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy các Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện H cấp ngày 08/10/2010 (viết tắt là Quyết định số 2663/QĐ-UBND); Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 của UBND huyện Hòa Vang về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (viết tắt là Quyết định số 8670/QĐ-UBND). Đây là các quyết định hành chính thuộc đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định tại Điều 3 Luật Tố tụng hành chính nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng theo các Điều 30, 32 Luật Tố tụng hành chính.
Đối với yêu cầu hủy các Quyết định số 2663/QĐ-UBND và Quyết định số 8670/QĐ-UBND thì thấy: Mặc dù các quyết định được ban hành đã hơn 10 năm nhưng trong khoản thời gian đầu năm 2024, UBND huyện Hòa Vang mới giao quyết định trực tiếp cho cho ông Võ Ngọc H (là đại diện theo uỷ quyền của bà Trần Thị Kim L) theo đơn xin nhận quyết định thu hồi và huỷ bỏ quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất. Bà Trần Thị Kim L là người bị tác động trực tiếp bởi các quyết định trên nên căn cứ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 02/HĐTP ngày 29/11/2011 của Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao và Điều 116 Luật Tố tụng hành chính thì thời hiệu khởi kiện các quyết định này vẫn còn.
- Về nguồn gốc đất: Bà Trần Thị Kim L nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại thửa đất số 759, tờ bản đồ số 09, diện tích 161m², tại xã Hoà Châu từ ông Trần Văn Minh vào ngày 30/9/2010. Ngày 08/10/2010, bà Loan được UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng cấp GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005; số vào sổ cấp CH02042 tại thửa đất số 1957, tờ bản đồ số 09, địa chỉ: Thôn Quan Châu, xã Hoà Châu, huyện Hoà Vang, thành phố Đà Nẵng, diện tích 161m², mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn, thời hạn sử dụng: lâu dài.
Theo Kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011 của Chánh Thanh tra thành phố Đ, do khi chuyển mục đích sử dụng đất chưa xem xét sự phù hợp với quy hoạch, không xem xét đến chủ trương quy hoạch Khu đô thị Tây Nam thành phố (đối với các xã Hòa Châu, Hòa Tiến, Hòa Phước) nên UBND huyện H đã ban hành các quyết định cho chuyển mục đích sử dụng đất và cấp GCNQSDĐất cho một số hộ dân nằm trong quy hoạch trên trong đó có hộ của bà Trần Thị Kim L. Do đó, đã yêu cầu UBND huyện H ban hành quyết định hủy bỏ quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất và GCNQSDĐất đã cấp có sai phạm theo kết luận số 284/KL-TTTP ngày 23/9/2011. Thực hiện kết luận của Chánh Thanh tra thành phố Đ, UBND huyện H đã ban hành Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với ông Trần Văn Minh (sau này bà Loan nhận chuyển nhượng thửa đất này) và Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND huyện H về việc thu hồi và hủy bỏ GCNQSDĐ, QSHNỞ và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện H cấp ngày 08/10/2010.
Ngày 19/10/2015, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 7709/QĐ-UBND về việc phê duyệt lại Tổng mặt bằng quy hoạch chi tiết TL 1/500 Khu đất tại thôn Quang Châu, theo đó thửa đất của bà L được xác định không còn nằm trong quy hoạch của dự án và xác định vị trí thửa đất của bà L hiện tại đã phù hợp với quy hoạch được duyệt.
Theo chủ trương của UBND thành phố tại Công văn số 2093/UBND ngày 25/3/2016 đã thống nhất theo đề xuất của UBND huyện H và Sở Tài nguyên và Môi trường thì cho phép UBND huyện H giải quyết hồ sơ giao đất lại cho các hộ trước đây theo vị trí tương ứng mà đã được cấp giấy chứng nhận. Giao UBND huyện H hướng dẫn các thủ tục cấp lại GCNQSDĐất theo đúng quy định.
Quá trình thực hiện chỉ đạo trên của UBND thành phố Đ, UBND huyện H không thực hiện được việc cấp lại GCNQSDĐất cho các hộ dân vì có các vướng mắc sau:
Theo Báo cáo số 3192/BC-STNMT ngày 21/12/2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường đã đề xuất:
Về thủ tục giao đất và cấp GCNQSDĐất theo quy định của Luật Đất đai. Theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 118 Luật Đất đai năm 2013: Giao đất ở nông thôn thuộc trường hợp phải đấu giá quyền sử dụng đất. Hiện nay phần lớn các trường hợp được giao đất lại không phải là người địa phương, không đủ điều kiện đấu giá quyền sử dụng đất.
Về nguồn gốc khu đất được giao lại cho các hộ: Sau khi UBND huyện H hủy các quyết định chuyển mục đích sử dụng đất và hủy các GCNQSDĐất đã cấp thì mục đích và nguồn gốc sử dụng của các thửa đất hiện tại là đất hàng năm đã cấp GCNQSDĐất theo Nghị định 64/CP cho các hộ sử dụng trước đây. Như vậy các lô đất trên không phải là đất đã được nhà nước thu hồi nếu tiến hành giao đất cấp lại GCNQSDĐất thì sẽ chồng lên các GCNQSDĐất nông nghiệp đã cấp dẫn đến tranh chấp khiếu kiện khiếu nại về sau.
Về việc xác định nghĩa vụ tài chính:
Theo Công văn số 3081/STNMT-CCQLĐ ngày 17/11/2016 của Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố Đ thì giá đất khi thực hiện giao đất lại cho các hộ được xác định theo giá đất năm 2010. Tuy nhiên, hiện tại Chi cục Thuế không thống nhất thu tiền sử dụng đất theo giá 2010 mà yêu cầu thu tiền sử dụng đất theo thời điểm UBND huyện ban hành Quyết định giao đất (khoảng từ năm 2018 đến năm 2020) theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư số 76/2014/TT-BTC ngày 16/6/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn một số điều của nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất: Tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất không thông qua hình thức đấu giá thì tiền sử dụng đất phải nộp được xác định bằng giá đất tính tại thời điểm sử dụng đất theo mục đích sử dụng đất được giao tại thời điểm có quyết định giao đất nhân (x) với diện tích phải nộp tiền sử dụng đất. Việc thu thuế theo quy định mới sẽ gây thiệt hại cho dân.
Tại Văn bản số 84/BC ngày 05/8/2021 của UBND huyện H đã đề xuất đến UBND thành phố Đ cho phép thu hồi và hủy bỏ các quyết định thu hồi hủy bỏ do UBND huyện H đã ban hành theo kết luận của Thanh tra. Tuy nhiên vẫn chờ ý kiến chỉ đạo của UBND thành phố Đ cho đến nay chưa được giải quyết.
Xét thấy: Lô đất của bà L đã được UBND huyện H cho chuyển mục đích sử dụng đất và cấp GCNQSDĐất, sau này bị UBND huyện ra quyết định bỏ quyết định chuyển mục đích sử dụng đất và GCNQSDĐất đã cấp theo Kết luận của Thanh tra vì cho rằng lô đất của bà nằm trong quy hoạch không được cấp giấy chứng nhận. Từ năm 2015, UBND thành phố Đ đã có quy hoạch lại và xác định lô đất bà L không còn nằm trong quy hoạch và UBND thành phố Đ cho phép cấp lại GCNQSDĐất cho các hộ dân hiện được xác định nằm ngoài quy hoạch của dự án trong đó có bà L. Tuy nhiên hiện nay do có nhiều vướng mắc của pháp luật như trên dẫn đến UBND huyện H không thể cấp lại được GCNQSDĐất gây thiệt hại cho bà L.
Việc bà Trần Thị Kim L bị thu hồi hủy bỏ quyết định cho chuyển mục đích sử dụng đất và GCNQSDĐất không phải do lỗi của bà L vì có vi phạm về pháp luật đất đai mà bị thu hồi theo kết luận của Thanh tra cho rằng lô đất đang nằm trong quy hoạch. Và hiện nay cơ quan có thẩm quyền đã xác nhận lô đất của bà không còn nằm trong quy hoạch thì đáng ra cơ quan có thẩm quyền phải cấp lại GCNQSDĐất cho bà Trần Thị Kim L. Tuy nhiên việc cấp lại GCNQSDĐất có nhiều vướng mắc về các quy định của pháp luật và về tài chính có gây thiệt hại cho bà.
Như vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trần Thị Kim L cần thiết phải hủy các Quyết định số 2663/QĐ-UBND và Quyết định số 8670/QĐ-UBND. Để bà Trần Thị Kim L được tiếp tục sử dụng GCNQSDĐất đã cấp trước đây và thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật là phù hợp với chủ trương của UBND huyện H đã đề xuất UBND thành phố cho hủy bỏ các quyết định thu hồi GCNQSDĐất, quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất theo kết luận của Thanh tra.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải kiến nghị Chủ tịch UBND huyện H thu hồi, huỷ bỏ một phần Thông báo số 130/TB-UBND và Thông báo số 163/TB-UBND“Về việc không giải quyết chứng thực việc đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một số Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại các xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Ninh, Hòa Phú và Hòa Khương” đối với nội dung liên quan đến hộ gia đình bà Trần Thị Kim L, để người sử dụng đất được thực hiện quyền của của mình, tránh việc khiếu nại, khiếu kiện kéo dài và giải quyết triệt để vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về án phí hành chính sơ thẩm: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện nên người bị kiện UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng phải chịu án phí hành chính sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Hoàn số tiền tạm ứng án phí cho người khởi kiện bà Trần Thị Kim L.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: các Điều 30, 32, 157, khoản 2 Điều 165, khoản 2 Điều 193, các Điều 196, 206, 213 của Luật Tố tụng hành chính; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện tuyên hủy bỏ một phần Thông báo số 130/TB-UBND ngày 05/10/2011 và Thông báo số 163/TB-UBND ngày 16/8/2017 của Chủ tịch UBND huyện H về việc không giải quyết không giải quyết chứng thực đăng ký thế chấp chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại xã Hòa Châu, Hòa Phong, Hòa Phú, Hòa Ninh và Hòa Khương đối với nội dung liên quan đến hộ bà Trần Thị Kim L có thửa số 1957, số tờ bản đồ 09, diện tích 161m², số giấy chứng nhận BC 990005, số vào sổ CH02042 cấp ngày 08/10/2010 tại Hòa Châu.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L đối với UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng về các yêu cầu:
- Huỷ Quyết định số 2663/QĐ-UBND ngày 13/7/2012 của UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng về việc thu hồi và hủy bỏ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 990005 do UBND huyện H cấp ngày 08/10/2010.
- Huỷ Quyết định số 8670/QĐ-UBND ngày 12/10/2011 của UBND huyện H V về việc thu hồi và hủy bỏ Quyết định số 476/QĐ-UBND ngày 26/3/2010 của UBND huyện H về việc cho phép chuyển mục đích sử dụng đất.
3. Án phí hành chính sơ thẩm: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), UBND huyện H phải chịu.
Hoàn số tiền tạm ứng án phí hành chính sơ thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) cho người khởi kiện bà Trần Thị Kim L theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001445 ngày 17/4/2024 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Án xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Riêng các đương sự vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc Tòa án niêm yết bản án tại địa phương.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Hoài Sơn |
Bản án số 37/2024/HC-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính
- Số bản án: 37/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện yêu cầu hủy quyết định hành chính
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/08/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Kim L đối với UBND huyện H, thành phố Đà Nẵng
