trending_up Tìm kiếm thịnh hành hôm nay
  • history Bản án mẫu tranh chấp đất đai
  • search Bảng giá đất 2026 tỉnh thành
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Lợi ích khi đăng ký tài khoản VNeID cấp 2
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHƯ PƯH

TỈNH GIA LAI

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày: 29-10-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Ngọc Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Siu Thun Phrâo và bà Ksor H’ Séo

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thị Hiền, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Trí, Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 76/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 7 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 9 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 209/2024/QĐST-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Phước T, sinh năm 1973 và bà Trần Thị Đ, sinh năm 1972

Địa chỉ thường trú: Thôn V, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bị đơn: Ông Trương Văn G

Địa chỉ: Thôn T, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 11/7/2024, quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Phước T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị Đ trình bày:

Ông và bà Trần Thị Đ là chủ sử dụng đất của thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, diện tích 26074,5m², địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 342620 do Ủy ban nhân dân huyện C, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/7/2014.

Trong quá trình sử dụng đất, ông Trương Văn G đã lấn chiếm một phần thửa đất của ông, có hành vi cản trở, không cho vợ chồng ông canh tác, sử dụng đất. Do đó ông, bà đã làm đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã I, huyện C giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trương Văn G.

Tại Biên bản kiểm tra hiện trạng đất tranh chấp ngày 05/6/2024, do Ủy ban nhân dân xã I, huyện C đã đo vẽ, xác định thửa đất của ông và ông Trương Văn G theo sự chỉ dẫn của hai bên. Theo kết quả đo vẽ, xác định tại biên bản này thì ông Trương Văn G hiện đang lấn chiếm của ông và bà Đ phần đất có diện tích 942m², nằm trong diện tích của thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43 mà vợ chồng ông đã được Nhà nước được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, Ủy ban nhân dân xã I đã mời các bên đến hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất nhưng do ông Trương Văn G vắng mặt không có lý do nên việc hòa giải không thành.

Vì vậy, nay ông và bà Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh giải quyết buộc ông Trương Văn G phải chấm dứt hành vi lấn chiếm quyền sử dụng đất, khôi phục hiện trạng, trả lại cho ông bà phần đất có diện tích 942m², nằm trong tổng diện tích 26074,5m², thuộc thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 342620 do UBND huyện C, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/7/2014 mang tên Lê Phước T và Trần Thị Đ. Qua xem xét, thẩm định tại chỗ xác định hiện tại ông Trương Văn G lấn chiếm và sử dụng của ông phần diện tích đất là 1.096,1 m². Vì vậy, nay ông yêu cầu ông G phải trả lại cho ông toàn bộ phần diện tích đang lấn chiếm là 1.096,1 m².

Tại Biên bản lấy lời khai ngày vào các ngày 14/8/2024, bị đơn ông Trương Văn G trình bày:

Nguồn gốc thửa đất rẫy tại làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai do ông mua từ năm 1999 của ông Phạm Quang P và bà Hoàng Thị T1. Đến năm 2000, hai bên lập giấy tờ mua bán viết tay có xác nhận của UBND xã I, huyện C. Khi nhận sang nhượng hai bên có bàn giao đất nhưng giáp ranh thì ông tự phát cây rừng chứ không chỉ giáp ranh cụ thể. Kể từ thời điểm nhận chuyển nhượng gia đình ông canh tác, sử dụng liên tục từ đó cho đến nay. Đối với diện tích đất hơn 900 m² mà ông Lê Phước T cho rằng ông lấn chiếm nguồn gốc do ông mới phát dọn, múc rể cây và khai hoang, hiện ông đã trồng một số cây sầu riêng (04 cây trồng vào mùa mưa năm 2024) và 50 cà phê (mới trồng vào mùa mưa năm 2024). Đối với phần diện tích đất này từ trước đến nay ông T chưa bao giờ thông báo, bàn bạc về ranh giới đất giữa hai bên. Đến năm 2023, ông T mới thông báo cho ông biết phần diện tích đất ông vừa phát dọn nói trên là của ông T, đồng thời yêu cầu UBND xã I tiến hành hòa giải về tranh chấp quyền sử dụng đất. Trường hợp qua xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạt trên thực tế phần diện tích đất nói trên thuộc diện tích đất nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T và bà Đ ông đồng ý trả lại phần diện tích đất nói trên cho ông T và bà Đ. Ông yêu cầu ông T thanh toán cho ông tiền công múc đất, khai hoang và giá trị cây trồng trên đất với số tiền 50.000.000 đồng.

Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa đã được thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng; bị đơn chưa chấp hành đúng các quyền, nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 158; Điều 163; Điều 164; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; các Điều 166; Điều 167 và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013 chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Buộc bị đơn ông Trương Văn G phải trả lại cho ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ diện tích đất 1096,1 m² thuộc thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 342620 do UBND huyện C, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/7/2014.

Buộc bị đơn phải chịu tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Đây là tranh chấp dân sự về quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai có thẩm quyền giải quyết vụ án.

[2] Bị đơn ông Trương Văn G vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do chính đáng nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Tại phiên tòa, nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về việc yêu cầu ông Trương Văn G giao trả lại quyền sử dụng đất có diện tích là 1096.1 m² (theo kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ), thuộc thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai. Xét thấy, việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện nên căn cứ khoản 1 Điều 244 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Tranh chấp giữa các bên phát sinh tại thời điểm Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật đất đai năm 2013 đang có hiệu lực pháp luật nên Hội đồng xét xử áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015 và Luật đất đai năm 2013 để giải quyết tranh chấp.

[5] Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, ông Lê Phước T thống nhất, không có ý kiến phản đối hay khiếu nại; bị đơn ông Trương Văn G đồng ý trả lại phần diện tích đất có tranh chấp nếu qua đo đạc trên thực tế phần đất nói trên nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông T, bà Đ. Các đương sự không có ý kiến gì đối với kết quả đo đạc, xem xét, thẩm định tại chỗ đối với quyền sử dụng đất đang tranh chấp có diện tích là 1096.1 m², thuộc thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, có vị trí, số đo tứ cận cụ thể như sau:

Hướng Đông giáp phần đất phía đông của thửa số 35c, có số đo là 12.9m + 21.15m. Hướng T2 có số đo là 11.35m.

Hướng Nam giáp đất của ông Trương Văn G có số đo là 3.13m + 67,15m.

Hướng Bắc giáp đất của ông T có số đo là 45.85m.

[6] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ý kiến của bị đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[6.1] Phần đất đang tranh chấp có diện tích 1096.1 m², thuộc thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai có nguồn gốc do ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ nhận chuyển nhượng từ ông Hoàng Văn P1 vào năm 2010, đến năm 2014 hai bên hoàn tất thủ tục chuyển nhượng. Khi thực hiện thủ tục chuyển nhượng hai bên cùng công chức địa chính xã I xác định vị trí tứ cận, ranh giới. Khi tiến hành bàn giao đất mốc giới là các gốc cây rừng tự nhiên phân định giữa đất của ông và gia đình ông G, lúc đó ông G không có ý kiến gì về mốc giới đó. Kể từ đó hai bên không có tranh chấp hay ý kiến gì, đến tháng 4 năm 2024 khi ông T đi kiểm tra rẫy mới phát hiện việc ông G đốt rẫy làm cháy hết dây điện và cây điều của gia đình ông T. Sau đó ông T làm đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T3 hòa giải nhưng sau đó ông G tiếp tục trồng và phê và sầu riêng trên phần đất lấn chiếm của gia đình ông.

Phần đất 1096.1 m² đang tranh chấp nói trên nằm trong tổng số diện tích đất 26074,5m² đã được Ủy ban nhân dân huyện C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BT 342620 ngày 22/7/2014 cho ông Lê Phước T và Trần Thị Đ. Hiện tại, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 342620 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 22/7/2014 cho ông Lê Phước T và Trần Thị Đ chưa bị Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai có thẩm quyền nào thu hồi hay hủy bỏ theo quy định pháp luật và cũng không ai khiếu nại đối với việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên. Do đó, có đủ cơ sở xác định việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho ông Lê Phước T và Trần Thị Đ là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013.

Do đó, có đủ cơ sở khẳng định phần đất đang tranh chấp thuộc quyền sở hữu của ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013.

[6.2]. Quá trình giải quyết vụ án, ông Trương Văn G trình bày nguồn gốc phần đất đang tranh chấp do ông nhận chuyển nhượng từ ông Phạm Quang P và bà Hoàng Thị T1 vào năm 2000, khi nhận chuyển nhượng hai bên chỉ lập giấy tay và được Ủy ban nhân dân xã I, huyện C (N là xã I, huyện C) xác nhận và có tiến hành bàn giao đất nhưng ranh giới do ông tự phát dọn cây rừng tự nhiên để xác định ranh giới. Trường hợp qua xem xét, thẩm định tại chỗ và đo đạc xác định nếu phần đất đang tranh chấp nằm trong diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ ông đồng ý trả lại phần diện tích đất nói trên cho ông T, bà Đ. Tuy nhiên, ông T và bà Đ phải thanh toán lại cho ông tiền công phát dọn, khai hoang và giá trị cây trồng trên đất với số tiền 50.000.000 đồng.

Xét thấy, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập, thông báo cho ông G biết, để tạo điều kiện cho ông G cung cấp tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ, nhưng ông G không cung cấp được tài liệu, chứng cứ theo quy định của pháp luật.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 6 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định về cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự: “Đương sự có quyền và nghĩa vụ chủ động thu thập, giao nộp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.” Căn cứ vào khoản 4 Điều 91 của Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định: “Đương sự có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ để chứng minh mà không đưa ra được chứng cứ hoặc không đưa ra đủ chứng cứ thì Tòa án giải quyết vụ việc dân sự theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ vụ việc.”. Với các quy định nêu trên cho thấy, ông G có nghĩa vụ phải cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình là có cơ sở, nhưng ngoài lời trình bày thì ông G không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh việc ông yêu cầu ông T, bà Đ thanh toán số tiền 50.000.000 đồng là có căn cứ. Tại phiên tòa, ông T không đồng ý thanh toán cho ông G bất cứ một khoản tiền nào. Vì vậy, không đủ căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận đối với ý kiến của ông Trương Văn G.

[6.3]. Mặc dù ông G đang quản lý, sử dụng phần diện tích đất đang có tranh chấp nhưng không được Cơ quan quản lý Nhà nước về đất đai công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không có các loại giấy tờ theo quy định tại Điều 100, Điều 101 của Luật Đất đai năm 2013, nên việc ông G quản lý, sử dụng phần đất tranh chấp là không ngay tình, không hợp pháp và không được pháp luật thừa nhận.

Căn cứ vào Điều 158, khoản 2 Điều 164 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của luật” và “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền yêu cầu Tòa án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác buộc người có hành vi xâm phạm quyền phải trả lại tài sản, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật việc thực hiện quyền sở hữu, quyền khác đối với tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.” Căn cứ vào khoản 5, khoản 7 Điều 166 của Luật Đất đai năm 2013 quy định về quyền chung của người sử dụng đất: “Được Nhà nước bảo hộ khi người khác xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp về đất đai của mình” và “Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện về những hành vi vi phạm quyền sử dụng đất hợp pháp của mình và những hành vi khác vi phạm pháp luật về đất đai” Từ cơ sở nêu trên, để thực hiện các quyền của người sử dụng đất nên ông T, bà Đ yêu cầu ông G giao trả lại quyền sử dụng đất đang tranh chấp là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về chi phí tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông G phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng. Ông Lê Phước T, bà Trần Thị Đ đã nộp tạm ứng chi phí này nên cần buộc ông G có nghĩa vụ thanh toán lại cho ông T, bà Đ số tiền 4.000.000 đồng theo quy định tại các Điều 156, 157 và khoản 1 Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự (nguyên đơn không yêu cầu tính lãi chậm trả đối với khoản tiền này).

[8] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên ông G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, nộp, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 157; Điều 158; Điều 165; Điều 166; khoản 1 Điều 244; Điều 271; Điều 273; Điều 278; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự

Căn cứ các Điều 158; Điều 163; Điều 164; Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015

Căn cứ vào Điều 166; Điều 167; Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013

Căn cứ Khoản 2 Điều 26, điểm a Khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: 1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ đối với bị đơn ông Trương Văn G về tranh chấp quyền sử dụng đất.

1.1. Buộc ông Trương Văn G giao trả toàn bộ quyền sử dụng đất có diện tích là 1096.1 m², thuộc thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, địa chỉ thửa đất: Làng M, xã I, huyện C, tỉnh Gia Lai, có vị trí, số đo tứ cận cụ thể như sau:

Hướng Đông giáp phần đất phía đông của thửa số 35c, có số đo là 12.9m + 21.15m. Hướng T2 có số đo là 11.35m.

Hướng Nam giáp đất của ông Trương Văn G có số đo là 3.13m + 67,15m.

Hướng Bắc giáp đất của ông T có số đo là 45.85m.

(Đính kèm bản án là sơ đồ đo đạc thửa đất đang tranh chấp)

2. Về chi phí tố tụng: Ông Trương Văn G phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.000.000 đồng và có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ số tiền 4.000.000 đồng nói trên (nguyên đơn không yêu cầu tính lãi chậm thanh toán đối với số tiền này).

3. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc ông Trương Văn G phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước.

Trả lại cho ông Lê Phước T và bà Trần Thị Đ số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006067 ngày 18/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai.

4. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - TAND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND tỉnh Gia Lai;
  • - VKSND huyện Chư Pưh;
  • - CCTHADS huyện Chư Pưh;
  • - Lưu: HSVA, VT-LT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đặng Ngọc Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PƯH, TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông và bà Trần Thị Đóa là chủ sử dụng đất của thửa đất số 35c, tờ bản đồ số 43, diện tích 26074,5m2, địa chỉ thửa đất: Làng Mung, xã Ia Hla, huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BT 342620 do Ủy ban nhân dân huyện Chư Pưh, tỉnh Gia Lai cấp ngày 22/7/2014.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger