Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 37/2024/DSST

Ngày: 22-8-2024

V/v: Tranh chấp hợp tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Ngọc Minh và bà Lê Thị Hường.

- Thư ký phiên tòa: bà Vũ Trần Bảo Trân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên toà: bà Nguyễn Hoài - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 28/2024/TLST-DS, ngày 06 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2024/QÐST-DS ngày 05tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ngân hàng N2 (Gọi tắt là A1)

Địa chỉ: số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: ông Phạm Toàn V - Tổng giám đốc;

Đại diện hợp pháp tham gia tố tụng: ông Lâm Gia V1 - Giám đốc Phòng G, tỉnh Ninh Thuận – Có mặt.

Bị đơn: ông Nguyễn Thành N – Sinh năm: 1974 – Vắng mặt

Địa chỉ: P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: bà Nguyễn Thị L – Sinh năm: 1978 – Vắng mặt.

Địa chỉ: P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện ngày 12-10-2023 và tại phiên tòa người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Năm 2020, Ngân hàng A1 cho ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị L vay số tiền 200.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 4907-LAV- 202000740 ngày 07/02/2020; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất cho vay: 10.5%/năm (lãi suất điều chỉnh theo kỳ). Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông N, bà L thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 278 tờ bản đố số 24ab bản đồ địa chính xã P (tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) theo hợp đồng thế chấp số [...]/HĐTC ngày 29/6/2027 được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.

Trong thời hạn thực hiện hợp đồng tín dụng, ông N, bà L không thực hiện nghĩa vụ trả tiền lãi, gốc định kỳ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Đến nay hợp đồng đã đến hạn trả toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi nhưng ông N, bà L không thực hiện trả nợ gốc và các khoản lãi phát sinh theo hợp đồng cho Ngân hàng và cũng không thỏa thuận với ngân hàng để giải quyết khoản nợ.

Tính đên ngày xét xét xử sơ thẩm, ông N, bà L còn nợ Ngân hàng số tiền sau: Nợ gốc: 200.000.000 đồng; lãi trong hạn: 58.871.918 đồng; lãi quá hạn: 53.398.973 đồng.

Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước giải quyết những vấn đề sau đối với bị đơn:

Buộc ông Nguyễn T và bà Nguyễn Thị L phải thanh toán số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 58.871.918 đồng; lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 53.398.973 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm buộc ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ siên nợ gốc cho Ngân hàng.

Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 278 tờ bản đồ số 24ab bản đồ địa chính xã P (tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) yêu cầu tiếp tục duy trì để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.

2. Bị đơn ông Nguyễn Thành N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L vắng mặt nên không ghi nhận được ý kiến trình bày.

3. Ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên Tòa:

Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã xác định đúng quan hệ tranh chấp, thụ lý giải quyết vụ án đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành đúng các thủ tục tố tụng, đảm bảo đầy đủ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự.

Về nội dung vụ án: khoản 3 Điều 26, khoản 2 Điều 92, điểm a khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Điều 295, 299, 463, 465, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 100, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024; khoản 1 Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình 2014; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàn Nông nghiệp và N2.

Buộc ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị L phải thanh toán số tiền nợ gốc là 200.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 58.871.918 đồng; lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 53.398.973 đồng cho Ngân hàng N2.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm buộc ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục chịu tiền lãi trên số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ siên nợ gốc cho Ngân hàng.

Đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 278 tờ bản đồ số 24ab bản đồ địa chính xã P (tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) yêu cầu tiếp tục duy trì để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp không thực hiện nghĩa vụ trả nợ thì đề nghị cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ.

Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị L phải chịu và có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng A1.

Về án phí: ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ngân hàng A1 không phải chịu án phí sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1]. Thủ tục tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án xác định quan hệ tranh chấp là: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” được quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước theo quy định tại Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia tố tụng tại phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

[2]. Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A1 thấy;

Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được Hội đồng xét xử thẩm tra, đánh giá tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định:

Năm 2020 bà Nguyễn Thị L ủy quyền cho ông Nguyễn Thành N cùng thực hiện hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A1, theo đó: Ngân hàng Al cho ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị L vay số tiền 200.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 4907-LAV- 202000740 ngày 07/02/2020; thời hạn vay 36 tháng; lãi suất cho vay: 10.5%/năm, Ngân hàng đã giao đủ số tiền 200.000.000 đồng cho ông N và bà L.

Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ, ông N, bà L thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất thửa đất số 278 tờ bản đồ số 24ab bản đồ địa chính xã P (tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) theo hợp đồng thế chấp số [...]/HĐTC ngày 29/6/2027 được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền.

Xét thỏa thuận của các bên tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện, nội dung, hình thức của giao dịch phù hợp với quy định của Bộ luật Dân sự, Luật các tổ chức tín dụng, Luật đất đai nên có hiệu lực pháp luật và buộc phải thực hiện.

Xét sau khi ký kết hợp đồng Ngân hàng A1 đã thực hiện việc giải ngân số tiền 200.000.000 đồng cho ông N và bà L. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày vay đến ngày cuối cùng của thời hạn vay (25/02/2023) ông N và bà L không trả nợ gốc, lãi định kỳ theo thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Tính đến ngày xét xử sơ thẩm, các khoản nợ của ông N, bà L theo hợp đồng tín dụng là: nợ gốc: 200.000.000 đồng; tiền lãi trong hạn: 58.871.918 đồng; lãi quá hạn là 53.398.973 đồng.

Do đó, Ngân hàng A1 khởi kiện yêu cầu ông N và L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ và xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp với quy định tại Điều 463, 466 và 468 Bộ luật Dân sự 2015, Điều 100, 103 Luật các Tổ chức tín dụng 2024 nên chấp nhận,.

[3]. Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.500.000 đồng, do yêu cầu của Nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên căn cứ vào Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng A1.

[4]. Về án phí sơ thẩm:

Yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn đơn số tiền tạm ứng án phí 7.308.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0002630 ngày 25-7-2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ninh Phước.

Buộc bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phải liên đới chịu án phí sơ thẩm số tiền được tính là: 200.000.000 đồng + tiền lãi trong hạn: 58.871.918 đồng + lãi quá hạn là 53.398.973 đồng = 312.270.890 đồng x 5% = 15.613.500 đồng (đã làm tròn số).

[5]. Quan điểm của Viện kiểm sát chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, xử lý tiền chi phí tố tụng, án phí sơ thẩm là phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng:

  • + Các điều: 26, 39, 147, 157, 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • + Các điều: 288, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015
  • + Điều 10, 103 Luật Các tổ chức tín dụng năm 20;
  • + Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014
  • + Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Ngân hàng N2.

Buộc ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị L phải liên đới trả số tiền nợ gốc 200.000.000 đồng; lãi trong hạn: 58.871.918 đồng; lãi quá hạn tính đến ngày xét xử sơ thẩm là 53.398.973 đồng cho Ngân hàng N2.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 22/8/2024) ông Nguyễn Thành N và bà Nguyễn Thị L phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất quá hạn các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong toàn bộ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng N2.

Tiếp tục duy trì tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liên với quyền sử dụng đất thửa đất số số 278 tờ bản đồ số 24ab bản đồ địa chính xã P (tọa lạc tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận) theo hợp đồng thế chấp số [...]/HĐTC ngày 29/6/2027 để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản để đảm bảo thu hồi nợ.

Về chi phí tố tụng: Buộc ông Nguyễn Thành N, bà Nguyễn Thị L phải liên đới hoàn lại số tiền chi phí tố tụng là 1.500.000 đồng cho Ngân hàng N2.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sựngười được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Về án phí:

Ngân hàng N2 không phải chịu án phí sơ thẩm, hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 7.111.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số

0001171 ngày 05/3/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ninh Phước, cho Ngân hàng N2.

Buộc ông Nguyễn Thành N và Nguyễn Thị L phải liên đới chịu 15.613.500 đồng án phí sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 22-8-2024); đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trọng hạn 15 ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - Các đương sự;
  • - CCTHADS huyện Ninh Phước;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Văn Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DSST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 37/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger