Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

Bản án số: 37/2024/DS-ST

Ngày 20 – 6 – 2024

“V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Diệu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Văn Qui
  2. Ông Nguyễn Văn Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Nhiệm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên toà: Ông Đỗ Thành Nghiên - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 67/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-DS, ngày 13/5/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 82/2024/QĐST-DS ngày 29/5/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Công ty T (tên viết tắt là JIVF).

    Người đại diện theo pháp luật: ông Taniguchi N - Chức vụ Tổng giám đốc.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Việt N1 – Chức vụ: Phó bộ phận quản lý công nợ (Văn bản ủy quyền số 17/2023/UQ/JIVF ngày 19/9/2023).

    Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Đỗ Phương D, sinh năm: 1991, chức vụ: Nhân viên JIVF (Văn bản ủy quyền số 384/2023/UQ/JIVF-LM ngày 20/3/2024.

    Địa chỉ: Lầu A Tòa nhà C, 7 N, phường V, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

  2. Bị đơn: Bà Lâm Thị Ngọc L, sinh năm: 1987.

    Địa chỉ: ấp L, xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.

Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện và quá trình tố tụng tại tòa án người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn Công ty T, ông Đỗ Phương D trình bày:

Vào ngày 18/7/2023, bà Lâm Thị Ngọc L có ký hợp đồng tín dụng số 637000004345378000 với Công ty T (sau đây gọi tắt là Công ty), với số tiền vay 19.798.000 đồng, mục đích vay là mua nội thất, vay hình thức trả góp hàng tháng. Lãi suất thỏa thuận là 4.1772%/tháng. Lãi suất năm là 50,1266%. Thời hạn vay 12 tháng.

Thực hiện hợp đồng, Công ty đã giải ngân số tiền vay nêu trên theo thỏa thuận tại Điều 2 của Hợp đồng tín dụng và bên vay đã nhận được tài sản. Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng thì bà L có trách nhiệm thanh toán gốc và lãi trong vòng 12 tháng, mỗi tháng bà L phải thanh toán cho Công ty số tiền 2.143.268 đồng vào ngày 22 hàng tháng cho đến khi kết thúc hợp đồng. Ngày thanh toán đầu tiên bắt đầu từ ngày 22/8/2023.

Từ ngày 22/8/2023 đến ngày 23/10/2023, bà L thanh toán được số tiền 4.288.000 đồng thì ngưng thanh toán và cố ý trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho đến nay là vi phạm nghiêm trọng thỏa thuận mà hai bên đã ký kết, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của công ty. Tính ngày đến ngày 26/12/2023, bà L còn nợ Công ty số tiền 19.585.455 đồng. Căn cứ Điều 3, Điều 7, Điều 8, Điều 11 của hợp đồng tín dụng số 637000004345378000 ngày 18/7/2023. Công ty yêu cầu bà L phải thanh toán số tiền còn nợ là 19.585.455 đồng và lãi suất phát sinh do nợ quá hạn, lãi quá hạn, các loại phí theo hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi tất nợ.

Ngày 20/6/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn cung cấp: Bản tự khai, các bảng kê: Lịch sử thanh toán chi tiết, Bảng kê tiền lãi trong hạn, Bảng kê tiền lãi quá hạn theo hợp đồng 637000004345378000 tên khách hàng Lâm Thị Ngọc L, tính đến ngày 20/6/2024 với số tiền chưa thanh toán là 26.172.197 đồng. Trong đó: Nợ gốc 17.221.573 đồng, lãi trong hạn 6.433.116 đồng, lãi quá hạn 2.409.508 đồng, phí quản lý khoản vay 108.000đồng.

Bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng chưa ghi nhận được ý kiến.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án:

Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký, chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng quy định pháp luật, vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T Jaccs, có người đại diện ủy quyền ông Đỗ Phương D tổng số tiền 26.172.197 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn một trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 17.221.573 đồng (mười bảy triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi ba đồng), lãi trong hạn: 6.433.116 đồng (sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn một trăm mười sáu đồng). Lãi quá hạn: 2.409.508 đồng (hai triệu bốn trăm lẻ chín nghìn năm trăm lẻ tám đồng), phí: 108.000 đồng (một trăm lẻ tám nghìn đồng). Tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 637000004345378000 ngày 18/7/2023 ký kết giữa Công ty T và bà Lâm Thị Ngọc L cho đến khi bà Lâm Thị Ngọc L trả hết số nợ. Về án phí bị đơn phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Nguyên đơn Công ty T Jaccs khởi kiện bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng đã ký kết nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp “hợp đồng tín dụng” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Đỗ Phương D vắng mặt có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 173, 189 Bộ luật tố tụng dân sự, hướng dẫn tại tại điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng của nguyên đơn và bị đơn, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để giải quyết.

[3] Về nội dung giải quyết vụ án: Nguyên đơn Công ty T Jaccs yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn bà bà Lâm Thị Ngọc L phải trả cho nguyên đơn tổng số tiền 26.172.197 đồng. Trong đó: Nợ gốc 17.221.573 đồng, lãi trong hạn 6.433.116 đồng, lãi quá hạn 2.409.508đồng, phí 108.000đồng. Yêu cầu tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng đã ký kết cho đến khi trả xong số nợ.

[4] Nộp kèm theo đơn khởi kiện, nguyên đơn cung cấp các tài liệu chứng cứ: Hợp đồng tín dụng số 637000004345378000 ngày 18/7/2023 được ký kết giữa Công ty T và bà Lâm Thị Ngọc L, Giấy đề nghị kiêm phương án sử dụng vốn, Quy trình ký hợp đồng điện tử áp dụng cho sản phẩm vay tiêu dùng cá nhân, Văn bản ủy quyền số 17/2023/UQ/JIVF ngày 19/9/2023, Văn bản ủy quyền số 384/2023/UQ/JIVF-LM ngày 20/3/2024, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, bản photo căn cước công dân tên Lâm Thị Ngọc L, căn cước công dân tên Trần Việt N1, P và Thị thực Visa tên Taniguchi N, Bản tự khai, Lịch sử thanh toán chi tiết, B kê tiền lãi trong hạn, Bảng kê tiền lãi quá hạn tính đến ngày 20/6/2024 tên khách hàng Lâm Thị Ngọc L.

[5] Căn cứ các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn cung cấp chứng minh được: Giữa Công ty T và bà Lâm Thị Ngọc L có giao kết hợp đồng tín dụng số 637000004345378000 ngày 18/7/2023 với số tiền 19.798.000 đồng, nhằm mục đích tiêu dùng mà cụ thể là mua nội thất, theo hình thức trả góp hàng tháng vừa gốc và lãi là 2.143.268 đồng/tháng, trong thời hạn 12 tháng, vào ngày 22 hàng tháng, thời gian bắt đầu thực hiện là ngày 22/8/2023 cho đến khi kết thúc hợp đồng.

[6] Quá trình thực hiện hợp đồng, bà L không thực hiện đúng thỏa thuận, cụ thể là không trả nợ gốc và lãi đúng kỳ theo thỏa thuận, tính đến ngày xét xử sơ thẩm bà Lâm Thị Ngọc L chỉ thanh toán được số tiền 4.228.000đồng. Tính đến ngày 20/4/2024 bà L còn nợ tổng số tiền 26.172.197 đồng. Trong đó: Nợ gốc 17.221.573 đồng, lãi trong hạn 6.433.116 đồng, lãi quá hạn: 2.409.508 đồng, phí 108.000 đồng.

[7] Căn cứ các quy định: Tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 thì: “Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thoả thuận khác”. Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) quy định “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất ...theo quy định pháp luật”. Khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định “Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.

[8] Từ những chứng cứ nên trên, xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. Buộc bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Công ty T Jaccs tổng số tiền 26.172.197 đồng. Trong đó: Nợ gốc 17.221.573 đồng, lãi trong hạn 6.433.116 đồng, lãi quá hạn: 2.409.508 đồng, phí 108.000 đồng, tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo thỏa thuận đã ký kết cho đến khi bà L trả hết số nợ.

[9] Từ những nhận định nêu trên, xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở nên chấp nhận.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L phải nộp số tiền 26.172.197 đồng x 5% = 1.308.609đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 173, 189, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sữa đổi, bổ sung năm 2017); điểm a khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05 tháng 05 năm 2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn một số quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 192 Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về trả lại đơn khởi kiện, quyền nộp đơn khởi kiện lại vụ án; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[2] Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty T.

[3] Buộc bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn Công ty T Jaccs, có người đại diện ủy quyền ông Đỗ Phương D tổng số tiền 26.172.197 đồng (hai mươi sáu triệu một trăm bảy mươi hai nghìn một trăm chín mươi bảy đồng). Trong đó: Nợ gốc: 17.221.573 đồng (mười bảy triệu hai trăm hai mươi mốt nghìn năm trăm bảy mươi ba đồng), lãi trong hạn: 6.433.116 đồng (sáu triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn một trăm mười sáu đồng). Lãi quá hạn: 2.409.508 đồng (hai triệu bốn trăm lẻ chín nghìn năm trăm lẻ tám đồng), phí: 108.000 đồng (một trăm lẻ tám nghìn đồng). Tiếp tục tính lãi suất, phí phát sinh theo hợp đồng tín dụng số 637000004345378000 ngày 18/7/2023 ký kết giữa Công ty T và bà Lâm Thị Ngọc L cho đến khi bà Lâm Thị Ngọc L trả hết số nợ.

[4] Trong trường hợp các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi, lãi suất cho vay thì lãi, lãi suất cho vay được xác định theo thỏa thuận của các bên và văn bản quy phạm pháp luật quy định về lãi, lãi suất có hiệu lực tại thời điểm điều chỉnh lãi, lãi suất.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn bà Lâm Thị Ngọc L phải nộp 1.308.609đồng (một triệu ba trăm lẻ tám nghìn sáu trăm lẻ chín đồng). Nguyên đơn Công ty T Jaccs có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng ông Đỗ Phương D được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 489.000 đồng (bốn trăm tám mươi chín nghìn đồng) theo biên lai số 0007740 ngày 25/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

[6] Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[7] Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - VKSND thị xã Long Mỹ;
  • - Chi cục THADS thị xã Long Mỹ;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Diệu

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Văn Qui – Nguyễn Văn Giang

Lê Thị Diệu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 37/2024/DS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 37/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger