TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2024/DS-PT Ngày: 24/4/2024 “V/v Tranh chấp về đất đai và tháo dỡ công trình xây dựng" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Thu Từ
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn, ông Nguyễn Quang Trung
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lệ Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải – Kiểm sát viên
Trong ngày 24/4/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử công khai vụ án Dân sự phúc thẩm thụ lý số 113/2023/TLPT-DS ngày 09/11/2023 về việc “Tranh chấp về đất đai và tháo dỡ công trình xây dựng”. Do Bản án Dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An bị kháng cáo theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 24/2024/QĐXXPT-DS ngày 17/4/2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Ông Nguyễn Trọng T, sinh năm 1955; Địa chỉ: Xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm D xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Bà Nguyễn Thị B, sinh năm 1954; Địa chỉ cư trú: Xóm D xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1952; Địa chỉ cư trú: Xóm D xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị B1: Ông Nguyễn Hữu M, sinh năm 1959; Địa chỉ: Xóm D xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Trọng T
1
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Trọng T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B thống nhất trình bày:
Về nguồn gốc thửa đất gia đình là thửa số 235, tờ bản đồ 02 (theo 299) nay là thửa số 248, tờ bản đồ 10. Năm 1975, được UBND xã N cấp cho mẹ ông là cụ Nguyễn Thị T1 (đã mất năm 1987), ông ở cùng mẹ, lấy vợ sinh con ở trên thửa đất cho đến nay. Năm 1995, thực hiện chủ trương cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo Nghị định 64, UBND huyện N cấp GCNQSDĐ số E786744 ngày 06/11/1995 mang tên Nguyễn Trọng T. Ngày 30/11/2020, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Trọng T và Nguyễn Thị B, diện tích 870,5m². Khi cấp đổi GCNQSDĐ ông có ký biên bản xác định ranh giới thửa đất hai gia đình, biên bản mô tả mốc ranh giới, phiếu xác nhận kết quả đo cho thửa đất của gia đình mình và thửa giáp ranh gia đình ông M. Ranh giới thửa đất hai gia đình theo bản đồ 299 và theo GCNQSDĐ là đường thẳng. Phía Bắc thửa đất giáp ranh với thửa đất số 233 của gia đình ông Nguyễn Hữu M. Ranh giới thửa đất hai gia đình hiện không có gì ngăn cách, không có công trình, tài sản gì của gia đình ông.
Năm 2021, gia đình ông M đào móng xây nhà lấn sang đất của gia đình ông. Khi đó, ông có biết việc gia đinh ông M xây móng, làm nhà lấn sang thửa đất của gia đình ông nhưng khi đó ông không có ý kiến phản đối, không có đơn thư khiếu nại, kiến nghị tại xóm và xã. Gia đình ông M làm đơn gửi đến xã về tranh chấp, sự việc đã được hòa giải tại xã nhưng không thành.
Nay, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông M trả lại diện tích đã lấn của gia đình 5,73m² (theo kết quả đo của Văn phòng đăng ký đất đai huyện N). Trên phần diện tích đất lấn này có các công trình, tài sản của gia đình ông M gồm: Đế trụ, móng giằng, trụ, tường nhà 2 tầng. Ông yêu cầu gia đình ông M trả lại 5,73m² đất đã lấn và yêu cầu tháo dỡ toàn bộ tài sản công trình trên phần lấn, dù có ảnh hưởng đến công trình nhà của ông M.
Đối với yêu cầu phản tố của ông M về việc cho vợ chồng ông M được quyền sử dụng diện tích đất lấn là 5,73m², ông không đồng ý. Ông cũng không đồng ý phương án đổi 5,73m² đất phía trước nhà ông M.
Bị đơn ông Nguyễn Hữu M và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị B1 thống nhất trình bày: Về nguồn gốc thửa đất gia đình là thửa số 244, tờ bản đồ 02 (theo 299) nay là thửa đất số 233, tờ bản đồ 10. Năm 1975, Nhà nước giao cho cha mẹ ông sử dụng, sau khi cha mẹ để lại cho vợ chồng ông sử dụng ổn định từ đó cho đến nay. Ngày 03/11/1995, UBND huyện N cấp
2
GCNQSDĐ thửa đất mang tên Nguyễn Hữu M - Nguyễn Thị B1. Ngày 30/11/2020, Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh N cấp đổi lại GCNQSDĐ mang tên Nguyễn Hữu M và Nguyễn Thị B1, diện tích 763,2m². Tứ cận thửa đất: Phía Bắc giáp đường bê tông xóm; Phía Đông giáp mương, khe suối; Phía Tây giáp đường bê tông xóm; Phía Nam giáp thửa đất của gia đình ông Nguyễn Trọng T (khu vực đang tranh chấp). Phía giáp ranh với gia đình ông T ngày xưa có hàng rào dâm bụt, năm 1995 gia đình đã đào, hiện trạng hai thửa đất chưa có gì ngăn cách, không có tài sản gì của gia đình ông T. Khi cấp đổi GCNQSDĐ cho hai gia đình, ông có ký hồ sơ, biên bản xác định ranh giới thửa đất hai gia đình, biên bản mô tả mốc ranh giới, phiếu xác nhận kết quả đo cho thửa gia đình mình và thửa giáp ranh ông T. Ranh giới hai thửa đất theo bản đồ 299 và GCNQSDĐ là đường thẳng.
Năm 2021, gia đình ông đào móng xây nhà 2 tầng, lúc này do ông không biết được ranh giới thửa đất hai gia đình theo GCNQSDĐ mới vì chưa được nhận giấy chứng nhận, do ông cũng không mời địa chính để xác định mốc trên thực địa nên ông có đào móng, xây nhà kiên cố như hiện nay. Khi đào móng nhà thì ông T và con rể có biết, đứng xem đào móng nhưng cũng không có ý kiến phản đối, khi xây xong tầng 1, tầng 2 cũng không có ý kiến gì. Sự việc sau đó, ông có làm đơn yêu cầu xã xác minh, hòa giải nhưng không thành.
Theo kết quả đo của Chi nhánh Văn phòng Đ, gia đình ông thừa nhận lấn sang đất gia đình ông M 5,73m² trong đó phần tường nhà 2,46m², phần đế trụ âm dưới mặt đất, có kích thước 0,4m² + 0,65m² + 0,65m² + 0,65m² + 0,92m² = 3,27m². Trên phần này có các tài sản công trình của gia đình ông gồm: Đế trụ, phần móng, tường và góc tường nhà mới 2 tầng kiên cố.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông T, vợ chồng ông có ý kiến như sau:
- - Vợ chồng ông trả giá trị tương đương 5,73m² x 900.000 đồng/m² (theo biên bản định giá) = 5.157.000 đồng. Tại phiên tòa, vợ chồng ông tự nguyện trả giá trị tương đương là 5,73m² x 1.000.000 đồng/m² = 5.730.000 đồng. Đồng thời ông có yêu cầu phản tố được quyền sử dụng diện tích đất lấn là 5,73m². Và ranh giới giữa 2 thửa đất số 248 và 233, tờ bản đồ số 10 tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được xác định lại theo diện tích lấn 5,73m² theo kết quả đo của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N. Gia đình ông không đồng ý với yêu cầu của ông T là yêu cầu tháo dỡ tài sản trên phần lấn vì đã xây dựng kiên cố, nếu tháo dỡ sẻ ảnh hưởng đến kết cấu công năng sử dụng, thẩm mỹ ngôi nhà.
- - Trường hợp gia đình ông T muốn lấy 5,73m² đất phía Tây (phía trước trục đường xóm, cổng vào nhà ông) thì ông đồng ý trả lại đúng 5,73m² đất lấn.
Tại Bản án Dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An đã quyết định:
3
Căn cứ vào khoản 1 Điều 163, Điều 164, 175 và 176 của Bộ luật D sựnăm 2015; khoản 5 và 7 Điều 166 của Luật Đất đai2013; Điều 147, 157, 158, 165, 166 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26, khoản 2 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng T. Buộc ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 phải liên đới bồi thường cho ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B số tiền 5.730.000 đồng tương đương diện tích đất lấn 5,73m² tại thửa đất số 248, tờ bản đồ 16 tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Kỷ phần mỗi người phải bồi thường là 2.865.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là ông Nguyễn Trọng T về việc yêu cầu ông Nguyễn Hữu M trả lại diện tích đất lấn 5,73m² tại thửa đất số 248, tờ bản đồ 16 tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An và tháo dỡ công trình, tài sản trên diện tích đất lấn, gồm: Tường nhà 2 tầng bê tông cốt thép xây dựng năm 2021 của gia đình ông M, có chiều dài 1,3m + 1,87m + 1,3m + 2,3m + 1,3m + 0,4m + 0,8m + 0,52m = 9,79m, cao 8m (từ điểm 1,3,2 trên sơ đồ kèm theo); Các chân đế trụ gồm 05 đế trụ của nhà 2 tầng gia đình ông M được ký hiệu từ T1, T2, T3, T4, T5 trên sơ đồ kèm theo). Đế của trụ đổ bê tông âm dưới đất, kích thước lần lượt là T1: 0,4m2, T2: 0,65m2, T3: 0,65m2, T4: 0,65m2, T5: 0,92m2. Tổng: 3,27m2.
- Chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn là ông Nguyễn Hữu M. Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 được quyền sử dụng diện tích đất lấn là 5,73m². Và ranh giới giữa 2 thửa đất số 248 và 233, tờ bản đồ số 10 tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An được xác định lại theo diện tích lấn 5,73m² như sau: từ phần các đế trụ (T1, T2, T3, T4, T5, đến phần tường nhà ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 theo sơ đồ của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện N được ký hiệu từ (a, b, c, d, e, f, g, h, i, k, l, m, n, o, p, q, v, x, t, y), cụ thể có kích thước: 0,27m + 1,3m + 0,34m + 3m+ 0,51m + 1,3m + 0,5m + 1,87m + 0,5m + 1,3m + 0,5m + 2,3m + 0,5m + 1,3m + 0,5m + 0,4m + 0,5m + 1,3m + 1,05m = 19,24m.
(Có sơ đồ kèm theo bản án).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về nghĩa vụ chịu án phí, chi phí tố tụng khác, lãi suất chậm thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự trong vụ án.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/9/2023, nguyên đơn ông Nguyễn Trọng T kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm với nội dung: Ông lấy đất, không nhận tiền.
4
Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án theo đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, của các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của các đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:
- [1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa các đương sự có mặt đầy đủ. Do đó, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An tiến hành tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án là đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- [2] Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết toàn bộ vụ án như sau: Thống nhất diện tích đất vợ chồng ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 lấn chiếm của vợ chồng ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B là 11,4m² theo Biên bản thẩm định và kết quả đo vẽ ngày 23/4/2024. Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 được quyền sử dụng diện tích đất lấn chiếm nêu trên và đổi lại cho ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B 11,4m² đất ở phía trước nhà ông M theo sơ đồ kèm theo bản án; đồng thời ông M, bà B1 có trách nhiệm tháo dỡ toàn bộ tài sản trên diện tích đất đã đổi để bàn giao đất cho ông T, bà B; tháo dỡ 0,4m² bể phốt và ống nước ông M xây trên đất của ông T. Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, không vi phạm điều cấm của luật và không trái đạo đức xã hội. Do đó Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng Điều 300, khoản 2 Điều 308 sửa Bản án sơ thẩm, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.
- [3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại cấp phúc thẩm: Chi phí xem xét thẩm định tại cấp phúc thẩm là 5.000.000 đồng. Do các đương sự thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên các bên đương sự mỗi bên phải chịu một nửa chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn và bị đơn đã nộp đủ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- [4] Về án phí: Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên nguyên đơn ông Nguyễn Trọng T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và ông T, ông M mỗi bên phải chịu một nửa án
5
phí dân sự sơ thẩm. Do ông T và ông M là người cao tuổi nên căn cứ Nghị quyết 326-NQ/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ quốc hội miễn án phí dân sự phúc thẩm và dân sự sơ thẩm cho ông T và ông M.
- [5] Các nội dung khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 300, khoản 2 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 10/2023/DS-ST ngày 15/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, công nhận sự thỏa thuận của các đương sự như sau:
- Diện tích đất vợ chồng ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 lấn chiếm của vợ chồng ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B là 11,4m².
- Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 được quyền sử dụng 11,4m² đất thuộc thửa đất số 248, tờ bản đồ số 10, tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Diện tích đất được giới hạn bởi các điểm ABCD, có tứ cận như sau: Phía Bắc giáp với đất của gia đình ông Nguyễn Hữu M dài 14,45m; Phía Tây giáp đất của gia đình ông Nguyễn Trọng T dài 0,4m; Phía Nam giáp đất gia đình ông Nguyễn Trọng T dài 14,26m; Phía Đông giáp đất gia đình ông Nguyễn Trọng T 1,2m. Trên đất có 05 trụ móng, một phần bể phốt và tường nhà của gia đình ông M.
- Ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B được quyền sử dụng phần đất vợ chồng ông M đổi cho vợ chồng ông T là 11,4m² thuộc thửa đất số 233, tờ bản đồ số 10, tại xóm D, xã N, huyện N, tỉnh Nghệ An. Diện tích đất được giới hạn bởi các điểm MLNA, có tứ cận: Phía Bắc giáp đất của gia đình ông Nguyễn Hữu M dài 10,5m; Phía Tây giáp đường xóm dài 1,42m; Phía Nam giáp với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Trọng T dài 10,56m; Phía Đông giáp đất của gia đình ông Nguyễn Hữu M dài 0,76m.
- Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 phải tháo dỡ 01 trụ cổng, tường rào, sân lát gạch liên doanh, sân cổng bê tông và 01 con chạch xây bằng gạch nằm trên phần diện tích đất đã đổi cho ông Nguyễn Trọng T và bà Nguyễn Thị B và bàn giao đất cho ông T, bà B; tháo dỡ 0,4m² bể phốt, ống nước chồng lấn sang thửa đất số 248, tờ bản đồ số 10 của vợ chồng ông T, bà B.
- Ranh giới giữa thửa đất của vợ chồng ông T và vợ chồng ông M được xác định tại theo các điểm LNADCBHI.
- Vợ chồng ông Nguyễn Trọng T, bà Nguyễn Thị B và vợ chồng ông Nguyễn Hữu M, bà Nguyễn Thị B1 có quyền và nghĩa vụ liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được cấp đổi lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản tại cấp sơ thẩm: Ông Nguyễn Hữu M và bà Nguyễn Thị B1 phải liên đới hoàn trả cho ông T 4.000.000 đồng chi phí mà ông T đã nộp, kỷ phần mỗi người phải hoàn trả cho ông T là 2.000.000 đồng.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Nguyễn Trọng T; miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Nguyễn Trọng T và ông Nguyễn Hữu M.
- Trường hợp bản án quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều các 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thu Từ |
7
Bản án số 37/2024/DS-PT ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp về đất đai và tháo dỡ công trình xây dựng
- Số bản án: 37/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đất đai và tháo dỡ công trình xây dựng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 24/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp đất
