TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 37/2023/HNGĐ-ST Ngày: 24-10-2023 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Ái Loan
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Tuấn
Ông Dương Thành Huynh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Nhi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Tâm - Kiểm sát viên.
Công chức Toà án hỗ trợ tổ chức phiên toà trực tuyến tại điểm cầu thành phần Toà án nhân dân huyện Càng Long: Ông Đinh Văn D – Thư ký của Toà án nhân dân huyện Càng Long.
Ngày 24 tháng 10 năm 2023, tại hai điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh và điểm cầu thành phần tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Càng Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án thụ lý số 38/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2022 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 141/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 09 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Bé C, sinh năm 1985 (có mặt).
- Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
- Bị đơn: Anh T, C1 - H, sinh năm 1964 (vắng mặt).
- Địa chỉ: Số F, L, khóm I, phường L, thị trấn T, huyện V, Lãnh thổ Đài Loan.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 10 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Bùi Thị Bé C trình bày:
Chị và anh T, C1 - H tự nguyện đi đến hôn nhân vào năm 2018 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện C. Sau khi kết hôn anh T, C1 – H về Đài Loan làm thủ tục bảo lãnh cho chị, anh chị vẫn thường xuyên liên lạc với nhau, tuy nhiên do thủ tục phỏng vấn để bảo lãnh không được và khoảng cách địa lý, một năm nay hai người không còn liên lạc với nhau nên tình cảm không còn. Chị Bùi Thị Bé C yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T, C1 - H; về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không có.
Bị đơn anh T, C1 - H vắng mặt không có lời trình bày.
Do anh T, C1 - H vắng mặt nên vụ kiện đã được Tòa án mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Ý kiến của Kiểm sát viên: Về tố tụng, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã tiến hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Bùi Thị Bé C và anh T, C1 - H kết hôn có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Trong thời kỳ hôn nhân hai người ở hai nước khác nhau, không liên lạc, trao đổi thông tin, nay tình cảm không còn, chị C yêu cầu ly hôn. Xét thấy yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn là chính đáng, phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị C, về con chung, về tài sản chung, nợ chung chị C khai không có nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[1] Về thẩm quyền: Chị Bùi Thị Bé C khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh T, C1 - H, do anh T, C1 - H có nơi cư trú và làm việc tại Đài Loan nên đây là quan hệ tranh chấp về ly hôn có yếu tố nước ngoài thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh, Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 2 Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp thông báo cho bị đơn anh T, C1 - H về việc thụ lý vụ án, thời gian hòa giải và xét xử nhưng không nhận được phản hồi của anh T, C1 - H. Do đó, căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 5 Điều 477 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt đương sự.
[3] Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Bé C và anh T, C1 - H tự nguyện đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân huyện C vào ngày 21/11/2018 nên theo quy định của pháp luật Việt Nam, hôn nhân của chị C, anh T, C1 - H là hợp pháp được công nhận. Thời gian chung sống ngắn ngủi, anh T, C1 - H về nước, giữa hai người không liên lạc trao đổi thông tin, anh chị ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Mục đích hôn nhân là xây dựng cuộc sống gia đình hạnh phúc, vợ chồng thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình nhưng cuộc hôn nhân giữa chị C, anh T, C1 - H không đạt được mục đích đó. Hiện nay hai người ở hai nước khác nhau, không liên lạc trao đổi nên việc hàn gắn tình cảm gia đình là không thể thực hiện được. Do đó, chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị C, cho chị Bùi Thị Bé C và anh T, C1 - H ly hôn với nhau.
[4] Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Chị Bùi Thị Bé C khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Xét thấy ý kiến của Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6] Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Tại khoản 3 Điều 153 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải nộp chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn” do đó, buộc chị Bùi Thị Bé C phải chịu chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài.
[7] Về án phí: Theo khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Trong vụ án ly hôn thì nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm, không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn”, do đó, buộc chị Bùi Thị Bé C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 238, khoản 1 Điều 273, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, 56, khoản 1 Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị Bé C.
- Về hôn nhân: Cho chị Bùi Thị Bé C được ly hôn với anh T, C1 - H .
- Về con chung, về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu nên Tòa án không xem xét.
- Về chi phí ủy thác tư pháp ra nước ngoài: Buộc chị Bùi Thị Bé C phải chịu 400.000 đồng được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp theo biên lai số 0016813 ngày 18/4/2023 và biên lai số 0019461 ngày 23/10/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, chị Bùi Thị Bé C đã nộp đủ.
- Về án phí: Buộc chị Bùi Thị Bé C phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm bằng 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0014508 ngày 07/11/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Trà Vinh, chị Bùi Thị Bé C đã nộp đủ án phí.
Báo cho nguyên đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày; bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Ái Loan |
Bản án số 37/2023/HNGĐ-ST ngày 24/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 37/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Bùi Thị Bé C với Hsin
