|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 37/2022/HNGĐ-ST Ngày: 21-3-2022 V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Hiền
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phạm Thị Tuyết Trinh và Ông Lý Đình Đạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 01 năm 2022 về việc tranh chấp Hôn nhân và gia đình.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXX-ST ngày 13/01/2022, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2022/QĐ-ST ngày 11/02/2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 19/2022/QĐ-ST ngày 28/02/2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc S, sinh ngày 26/11/1997 (vắng mặt)
Địa chỉ: Xóm 7, tổ 3A, phường Đ, quận H, thành phố Hà Nội. - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị O, sinh ngày 06/12/1997 (vắng mặt)
Hộ khẩu thường trú: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang (Hiện nay đang lao động tại nước ngoài không có địa chỉ).
Địa chỉ cuối cùng của chị O tại Việt Nam: Thôn N, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện về việc xin ly hôn và bản tự khai, nguyên đơn anh Phạm Ngọc S trình bày:
Trước khi kết hôn anh và chị Nguyễn Thị O được tự do tìm hiểu rồi đi đến hôn nhân. Khi cưới được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục của địa phương. Anh, chị đăng ký kết hôn ngày 27/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang nơi chị O đăng ký hộ khẩu thường trú. Sau khi kết hôn, chị O về nhà anh làm dâu ngay. Anh, chị chung sống hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, chị O bỏ về nhà đẻ sinh sống. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống. Trong thời gian mâu thuẫn vợ chồng nhiều lần nói chuyện với mong muốn tiếp tục chung sống nhưng do bất đồng quan điểm quá lớn nên không có kết quả. Khi hai bên gia đình biết chuyện có gọi điện khuyên bảo vợ chồng về đoàn tụ nhưng anh, chị đều xác định không còn tình cảm nên không về đoàn tụ được. Khoảng tháng 3/2020 chị O đi xuất khẩu lao động tại Đảo Síp, khi đi không bàn bạc với anh. Kể từ tháng 3/2020 đến nay anh và chị O không còn gọi điện hỏi thăm sức khỏe của nhau, không ai quan tâm đến ai, ai có cuộc sống riêng của người đó. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị O.
- Về con chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, công nợ: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị Nguyễn Thị O là bị đơn không có mặt tại địa phương, không gửi văn bản giấy tờ, tài liệu về cho Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Tại biên bản làm việc ngày 28/01/2022 và 10/02/2022, bà Nguyễn Thị Đ là mẹ đẻ chị Nguyễn Thị O cho biết chị O hiện nay đang đi lao động tại Đảo Síp. Về quan hệ hôn nhân: Anh S, chị O đăng ký kết hôn ngày 27/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Sau khi kết hôn, chị O về nhà anh S dâu ngay và chung sống hòa thuận với gia đình nhà chồng. Được một thời gian bà thấy chị O nói vợ chồng xảy ra mâu thuẫn và chuyển về sinh sống cùng bà. Bà có khuyên bảo nhưng anh, chị không thống nhất được để về chung sống cùng nhau nữa. Tháng 3/2020 chị O đi xuất khẩu lao động tại Đảo Síp từ đó đến nay chưa về. Chị O, anh S chưa có con chung. Về công nợ, tài sản chung bà không nắm được.
Tại phiên tòa, Anh Phạm Ngọc S vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị Nguyễn Thị O đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 02 nhưng vẫn vắng mặt.
Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố đơn khởi kiện, bản tự khai của anh Phạm Ngọc S; Biên bản làm việc với mẹ đẻ của chị Nguyễn Thị O và thông qua các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu về việc tuân theo pháp luật về tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thẩm quyền, quan hệ pháp luật tranh chấp: Anh Phạm Ngọc S khởi kiện xin ly hôn chị Nguyễn Thị O. Theo Công văn số 3858/QLXNC-P5 về việc cung cấp thông tin xuất nhập cảnh ngày 23/02/2022 của Cục Quản lý xuất nhập cảnh - Bộ công an cung cấp, chị O xuất cảnh gần đây nhất là ngày 05/3/2020, hiện chưa có thông tin nhập cảnh trở lại. Do đó, chị O được xác định là đang ở nước ngoài. Ngoài ra, lời khai của anh S, Bà Đ là mẹ chị Nguyễn Thị O xác định được nơi cư trú cuối cùng của chị O ở Việt Nam trước khi xuất cảnh lần gần nhất là thôn Nội Ninh, xã N, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Chị O là bị đơn có hộ khẩu thường trú tại tỉnh Bắc Giang. Vì vậy, đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình có đương sự ở nước ngoài, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về việc vắng mặt đương sự: Anh Phạm Ngọc S là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Phạm Ngọc S. Đối với bị đơn chị Nguyễn Thị O vắng mặt tại phiên tòa: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã tiến hành làm việc với mẹ đẻ của chị O là bà Nguyễn Thị Đang, để giao thông báo thụ lý vụ án và đề nghị bà Đang thông báo cho chị O biết việc Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang đang thụ lý vụ giải quyết vụ án tranh chấp Hôn nhân gia đình giữa anh Phạm Ngọc S và chị Nguyễn Thị O. Bà Đ cho biết chị O vẫn thường xuyên liên lạc về gia đình, nhưng chị O không cung cấp cho gia đình, Tòa án địa chỉ cụ thể của chị O tại Đảo Síp. Nhận thấy đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo, từ chối cung cấp những tài liệu cần thiết. Do đó, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng cần tống đạt cho bị đơn và xử vắng mặt bị đơn theo Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao và khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Ngọc S và chị Nguyễn Thị O kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 27/02/2020 tại Ủy ban nhân dân xã Nn, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Đây là hôn nhân hợp pháp cần được pháp luật bảo vệ. Quá trình chung sống phát sinh mâu thuẫn, anh S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án xử cho anh được ly hôn chị Nguyễn Thị O. Xét yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của anh Phạm Ngọc S với chị Nguyễn Thị O. Hội đồng xét xử thấy: Sau khi kết hôn anh S và chị O chung sống với nhau hòa thuận được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Chị O bỏ về nhà bố mẹ đẻ sinh sống và đi lao động tại Đảo Síp từ ngày 05/3/2020. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Kể từ khi chị O bỏ về nhà đẻ sinh sống anh và chị O không còn liên lạc gì với nhau. Anh S xác định tình cảm vợ chồng không còn nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh và chị O được ly hôn. Do đó, cần xác định vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 51, Điều 53 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình. Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh S, xử cho anh Phạm Ngọc S và chị Nguyễn Thị O được ly hôn là hoàn toàn phù hợp quy định pháp luật.
[4]. Về con chung: Anh S trình bầy không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5]. Về tài sản, công nợ: Anh S không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6]. Về án phí: Anh Phạm Ngọc S phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án, nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang.
[7]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 và khoản 2 Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56, khoản 2 Điều 123, Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273, khoản 2 Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án; xử:
- Về hôn nhân: Anh Phạm Ngọc S được ly hôn chị Nguyễn Thị O.
- Về án phí: Anh Phạm Ngọc S phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000283 ngày 13/01/2022 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Giang. Xác nhận anh S đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo bản án: Anh Phạm Ngọc S vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
Chị Nguyễn Thị O hiện đang ở nước ngoài vắng mặt tại phiên tòa, có thời hạn kháng cáo Bản án là 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Thu Hiền |
Bản án số 37/2022/HNGĐ-ST ngày 21/03/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 37/2022/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/03/2022
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hôn nhân và gia đình giữa anh S và chị O
