|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 37/2021/HNGĐ - PT. Ngày 31 tháng 12 năm 2021. V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hà Giang;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Tiến; Ông Nguyễn Kim Ái.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Anh Quang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Chu Thị Hương Giang - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 42/2021/TLPT-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2021; Về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2021/HNGĐ -ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H; bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 37/2021/QĐPT-DS ngày 30 tháng 11 năm 2021 và quyết định hoãn phiên Tòa phúc thẩm số: 38/2021/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Chu Thị T, Sinh năm 1982;
Địa chỉ: Khu 12 xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, Sinh năm 1970;
Địa chỉ: Tập thể nhà ăn đường sắt Yên Viên, huyện G, TP Hà Nội.
Người kháng cáo: Anh Nguyễn Văn S - Bị đơn.
(Các đương sự chị T và anh S đều có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2021, ngày 19/4/2021 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Chu Thị T trình bày:
Tôi kết hôn với anh Nguyễn Văn S vào ngày 17/10/2017, đăng ký kết hôn tại UBND xã Y Sơn, huyện H (nay là xã T, huyện H). Sau kết hôn anh S làm tự do ở Hà Nội, còn tôi ở tại địa P và làm công việc buôn bán. Trong thời gian chung sống vợ chồng không được hòa thuận, hạnh phúc do bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 6/2020 đến nay hai bên không còn quan tâm đến nhau. Tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Tòa án huyện H giải quyết cho tôi được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.
Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 01 con chung: Cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017, hiện cháu đang ở với tôi. Ly hôn, tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu anh S phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về con riêng: Trước khi kết hôn với anh S tôi có một con riêng là cháu Chu Duy P, sinh ngày 03/7/2005. Sau ly hôn, tôi sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, không yêu cầu anh S phải có nghĩa vụ đối với cháu.
Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay và công sức đóng góp: Tôi xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S trình bày: Về thủ tục kết hôn như chị T trình bày là đúng. Tôi công nhận trong thời gian chung sống giữa vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm nên dẫn đến hai bên luôn bất hòa. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 7/2020 cho đến nay. Nay chị T xin ly hôn, tôi xác định tình cảm vợ chồng không còn, tôi đồng ý ly hôn.
Về con chung: Tôi xác định vợ chồng có 01 con chung: Cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017, hiện cháu đang ở với chị T. Ly hôn, tôi xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu, không yêu cầu chị T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về con riêng: Trước khi kết hôn với tôi, chị T có một con riêng là cháu Chu Duy P, sinh ngày 03/7/2005. Sau ly hôn, chị T sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cháu P, tôi không phải có nghĩa vụ đối với cháu.
Về tài sản chung, nợ chung, tài sản cho vay và công sức đóng góp: Tôi xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số: 59/2021/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 Tòa án nhân dân huyện H đã quyết định:
Áp dụng điều 55, 57, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147 – BLTTDS; điểm a khoản 5 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị T và anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Xử giao chị Chu Thị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017 kể từ tháng 10/2021 đến khi cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
- Về con riêng: Giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chu Duy P, sinh ngày 03/7/2005 kể từ tháng 10/2021 cho đến khi cháu thành niên. Anh S không phải có nghĩa vụ đối với cháu P.
- Về tài sản chung, công nợ chung, tài sản cho vay và công sức đóng góp: Chị T, anh S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, HĐXX không đặt ra giải quyết.
Kháng cáo:
Ngày 15/10/2021 anh Nguyễn Văn S có đơn kháng cáo với nội dung anh xin được nuôi con chung là cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017.
Tại phiên tòa phúc thẩm anh Nguyễn Văn S có đơn xin xét xử vắng mặt trong đó thể hiện quan điểm giữ nguyên nội dung đã kháng cáo xin được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Đơn kháng cáo của anh Nguyễn Văn S nộp trong hạn luật định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của anh Nguyễn Văn S xin được trực tiếp nuôi cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017; Hội đồng xét xử xét thấy:
Chị Chu Thị T và anh Nguyễn Văn S đều xác nhận vợ chồng có 01 con chung; cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017, ngoài con chung ra chị T có 01 con riêng Chu Duy P, sinh ngày 03/7/2005. Hiện cháu B đang ở với chị T. Ly hôn, chị T, anh S đều xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Tòa án cấp sơ thẩm đã phân tích, đánh giá các điều kiện như việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau khi ly hôn trên cơ sở đảm bảo quyền lợi của người con, để người con có một môi trường sống lành mạnh và phát triển tốt nhất về thể chất cũng như tinh thần và đã giao cho chị T được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung; cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.
Tuy nhiên xét điều kiện thực tế thì thấy anh S đang sống cùng với mẹ đẻ đã trên 80 tuổi tại khu tập thể Nhà ăn đường sắt Yên Viên – G – Hà Nội và đang làm tại Bưu điện Trung tâm 5 có địa chỉ tại 76 N- L- Hà Nội với mức lương theo hợp đồng từ 05 triệu đến 08 triệu đồng một tháng. Nguyện vọng của anh S muốn xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung vì anh có điều kiện hơn chị T, chị T không có thu nhập ổn định hàng tháng, lại phải nuôi dưỡng cả con riêng. Xét về điều kiện của chị T kể từ khi kết hôn với anh S và từ khi cháu B được sinh ra, cháu đã có cuộc sống ổn định với chị T và ông bà ngoại tại xã T, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Cháu được chị T và ông bà ngoại nuôi dưỡng phát triển bình thường, cuộc sống của chị T không đến mức quá khó khăn trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng cho cả hai cháu. Để đảm bảo cuộc sống ổn định cho cháu B sau khi anh S, chị T ly hôn, tránh sự xáo trộn không cần thiết, cần giao cho chị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chu Gia B là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ Luật tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của anh Nguyễn Văn S. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 59/2021/HNGĐ-ST ngày 29 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện H, tỉnh Phú Thọ về giao nuôi con chung.
Áp dụng điều 55, 57, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147; khoản 1 điều 148 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 điều 27; khoản 1 điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Chu Thị T và anh Nguyễn Văn S.
- Về con chung: Giao cho chị Chu Thị T được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Chu Gia B, sinh ngày 13/9/2017, kể từ tháng 10/2021 đến khi cháu thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Anh S không phải cấp dưỡng nuôi con chung do chị T không yêu cầu.
- Về con riêng: Giao chị T trực tiếp nuôi dưỡng cháu Chu Duy P, sinh ngày 03/7/2005, kể từ tháng 10/2021 cho đến khi cháu thành niên. Anh S không phải có nghĩa vụ đối với cháu P.
- Về tài sản chung, công nợ chung, tài sản cho vay và công sức đóng góp: Chị T, anh S xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí sơ thẩm: Chị Chu Thị T xin chịu 150.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2020/0002665 ngày 19/4/2021. Hoàn trả cho chị T số tiền 150.000đ.
- Về án phí phúc thẩm: Anh Nguyễn Văn S phải chịu 300.000đ án phí. Xác nhận anh S đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí theo biên lai số 0004733 ngày 20/10/2021 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện H, tỉnh Phú Thọ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hà Giang |
Bản án số 37/2021/HNGĐ - PT ngày 31/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 37/2021/HNGĐ - PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/12/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: thuận tình ly hôn, tranh chấp về con chung
