|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 369/2025/DS-ST
Ngày: 02 tháng 6 năm 2025
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Kim;
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Quản;
- Bà Nguyễn Thị Thuần;
- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Việt Anh - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc – Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 6 năm 2025 tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 924/2024/TLST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “V/v tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 521/2025/QĐXXST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 660/2025/QĐST-DS ngày 15 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Á;
Địa chỉ trụ sở chính: 442 Đường N, Phường E, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh N, sinh năm 1984, là người đại diện theo ủy quyền (theo Giấy ủy quyền số: 1902/UQ-QLN.24 ngày 20/12/2024 của Ngân hàng thương mại cổ phần Á).
Nơi thường trú: ấp Ô, xã B, huyện K, tỉnh Long An;
Địa chỉ liên lạc: Lầu H, Tòa nhà A, D Đường C, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
Bị đơn: Ông Hà Ngọc T, sinh năm 1981;
Địa chỉ (nơi thường trú): C Đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh;
Địa chỉ (ghi trong Hợp đồng): 23 Đường T Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện, bản khai, biên bản thì với tư cách là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Thanh N trình bày:
Căn cứ Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng Thương mại cổ phần Á (sau đây gọi tắt là Ngân hàng), Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ông Hà Ngọc T ký ngày 19/8/2020 và các văn bản khác thì ông T ký với Ngân hàng về việc sử dụng thẻ tín dụng. Ngân hàng đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông T, số thẻ: 4365991000531385 cấp ngày 15/9/2020, hạn mức thẻ 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, loại thẻ: Visa platinum, hiệu lực thẻ: tháng 10/2023; lãi suất trong hạn 30%/năm, quá hạn 45%/năm, phí: theo Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng. Hình thức đảm bảo: Tín chấp. Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông T không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng theo Thông báo giao dịch hàng tháng. Do đó, ngày 20/12/2023 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ thẻ sang nợ quá hạn, chấm dứt việc sử dụng thẻ và thu hồi toàn bộ dư nợ thẻ chưa thanh toán của ông T. Ngày 06/5/2024 Ngân hàng ra Thông báo chuyển nợ quá hạn và chấm dứt sử dụng thẻ đối với thẻ tín dụng nêu trên. Nay, Ngân hàng yêu cầu ông T thanh toán số tiền còn nợ tính đến ngày 02/6/2025 là 85.787.124 (tám mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi bốn) đồng. Trong đó: nợ gốc 54.916.377 đồng, nợ lãi quá hạn 30.870.747 đồng. Và từ ngày 03/6/2025 ông T có nghĩa vụ trả khoản tiền lãi phát sinh cho đến khi trả xong số nợ nêu trên, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ dụng thẻ tín dụng, Bản các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á cho đến khi thanh toán dứt điểm số nợ trên. Ngoài ra, Ngân hàng không có ý kiến yêu cầu nào khác.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt văn bản tố tụng và triệu tập các đương sự để tham gia về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Bị đơn vắng mặt và Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến, yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 15/5/2025 bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các Điều 227, 233 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tại phiên tòa hôm nay: Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn có Đơn đề nghị xét xử vắng mặt; giữ nguyên ý kiến, yêu cầu trình bày trong quá trình tố tụng. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Tòa án có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử nên cần rút kinh nghiệm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc thanh toán số tiền vay do các bên đương sự xác lập, giữa một bên là tổ chức tín dụng với khách hàng. Đây là quan hệ pháp luật “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Theo kết quả xác minh:
“Ông Hà Ngọc T, sinh năm 1981 có hộ khẩu thường trú tại C Đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện không còn cư ngụ tại địa phương bán nhà chuyển về địa chỉ 4 Đường L, Khu phố A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”.
“Ông Hà Ngọc T, sinh năm 1981 không có sinh sống tại 4 Đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh”.
“Đương sự Hà Ngọc T, sinh năm 1981 không còn thực tế cư trú và sinh sống tại địa chỉ 23 TL37, Khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh".
Nguyên đơn không biết địa chỉ mới của bị đơn và không tiến hành thủ tục thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng đối với bị đơn. Như vậy, bị đơn thay đổi nơi cư trú mà không thông báo địa chỉ mới cho cơ quan, người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật về cư trú, trốn tránh nghĩa vụ đối với nguyên đơn. Do đó, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Căn cứ vào Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Vào ngày 15/9/2020 nguyên đơn đồng ý cấp thẻ tín dụng và bị đơn đã nhận thẻ, số thẻ: 4365991000531385, với hạn mức 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân. Điều này chứng tỏ bị đơn có vay của nguyên đơn 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng bị đơn không trả nợ đầy đủ cho nguyên đơn. Tính đến ngày xét xử bị đơn còn nợ nguyên đơn số tiền 85.787.124 (tám mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi bốn) đồng. Nay, nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả nợ 85.787.124 (tám mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi bốn) đồng. Trong đó: nợ gốc 54.916.377 đồng, lãi quá hạn 30.870.747 đồng. Và tiền lãi phát sinh từ ngày 03/6/2025 theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên. Bị đơn vắng mặt trong quá trình tố tụng, nên từ bỏ quyền tranh tụng.
Theo quy định của pháp luật:
Điều 91, 92, 93 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Điều 463 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”.
Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, ...”. Đối với hợp đồng vay mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận.
Hội đồng xét xử xét thấy: Mục đích vay tiền của bị đơn để tiêu dùng cá nhân, không nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nên Tòa án xét thấy không cần thiết triệu tập thêm đương sự để tham gia tố tụng. Mặt khác, nguyên đơn chỉ yêu cầu bị đơn trả nợ. Xét, yêu cầu của nguyên đơn có cơ sở và căn cứ pháp lý nên chấp nhận.
[3] Về án phí:
Theo Điều 47 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp dân sự có giá ngạch 85.787.124 đồng x 5% = 4.289.356 (bốn triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm năm mươi sáu) đồng, nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tiền tạm ứng án phí 1.669.225 (một triệu, sáu trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0049306 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
VÌ CÁC LẼ TRÊN,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 91, 92, 93, 96, 147, 227, 228, 233, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9, 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
Buộc ông Hà Ngọc T có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á số tiền 85.787.124 (tám mươi lăm triệu, bảy trăm tám mươi bảy nghìn, một trăm hai mươi bốn) đồng, khi Bản án có hiệu lực pháp luật. Trong đó:
Nợ gốc 54.916.377 đồng;
Nợ lãi quá hạn 30.870.747 đồng.
Kể từ ngày 03/6/2025 ông Hà Ngọc T còn phải trả lãi phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.
Việc thi hành án do các bên đương sự tự nguyện thực hiện hoặc thực hiện tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí:
Ông Hà Ngọc T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 4.289.356 (bốn triệu, hai trăm tám mươi chín nghìn, ba trăm năm mươi sáu) đồng, nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần Á tiền tạm ứng án phí 1.669.225 (một triệu, sáu trăm sáu mươi chín nghìn, hai trăm hai mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án Số: 0049306 ngày 31/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo:
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
4. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự; thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Mỹ Kim |
Bản án số 369/2025/DS-ST ngày 02/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 369/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án
