Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ DĨ AN

TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 369/2023/HS-ST

Ngày 21-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Phạm Văn Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Từ Anh Tuấn;

2. Ông Nguyễn Đức Lợi.

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Vương, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 400/2023/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 507/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Tri P

sinh năm 1987 tại tỉnh Quảng Bình. Thường trú: thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thanh B, sinh năm 1964 và bà Đinh Thị H, sinh năm 1964; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không.

- Tiền án:

  • + Ngày 27/3/2012, bị Toà án nhân dân thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai xử phạt 14 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Bản án số 166/2012/HS-ST, chấp hành xong ngày 22/01/2013.
  • + Ngày 25/01/2014, bị Toà án nhân dân thị xã (nay là thành phố ) D, tỉnh Bình Dương xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 32/2014/HS-ST.
  • + Ngày 01/4/2014, bị Toà án nhân dân thành phố Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình xử phạt 05 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 17/2014/HS-ST (bị cáo kháng cáo). Ngày 26/6/2014, bị T án nhân dân tỉnh Q xử phạt 05 năm 06 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 65/2014/HS-PT.
  • + Ngày 13/6/2014, bị Toà án nhân dân thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản số 05/2014/HS-ST.
  • + Ngày 29/7/2014, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Bình ra Quyết định số 92/QĐ-CA tổng hợp hình phạt của 03 bản án trên là 11 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 19/01/2023.

- Nhân thân: Ngày 18/3/2009, bị Toà án nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 12/2009/HS-ST, chấp hành xong ngày 14/10/2009.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/7/2023 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Ông Vũ Văn Q, sinh năm 1987. Địa chỉ: số A, đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Bà Mai Thị Đ, sinh năm 1977, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Tri P là đối tượng không có việc làm ổn định, khoảng 19 giờ ngày 14/7/2023, P mang theo 01 nón bảo hiểm và 01 cái áo mưa rồi đi bộ từ khu vực thành phố T, tỉnh Bình Dương đến khu vực thành phố D để tìm tài sản chiếm đoạt. Khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày, P đi đến trước địa chỉ số A đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương nhìn thấy 03 xe mô tô đang dựng trước vỉa hè, không ai trông giữ. Trong đó, có 01 xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số 68F1-4328 có gắn khung sắt để chở đồ của anh Vũ Văn Q có cắm sẵn chìa khoá nên P đi tới chỗ ghế đá cạnh chiếc xe mô tô, biển số 68F1-4328, P nấp sau ghế đá rồi bò dưới đất để chủ nhà không phát hiện. Sau đó, P dùng tay xê dịch xe mô tô để hướng đầu xe quay ra đường nhằm dễ chiếm đoạt. Lúc này, chị Mai Thị Đ ở trong nhà nhìn thấy chiếc xe bị xe dịch khoảng 30cm và P đang bò dưới sân cạnh chiếc xe mô tô, biển số 68F1-4328 nhưng tưởng là người nhà đùa giỡn nên gọi vào. Nguyễn Tri P biết bị phát hiện nên đứng dậy bỏ đi thì chị Đ chạy ra và trị hô “trộm, trộm” thì P bỏ chạy về phía chung cư P, cởi bỏ áo mưa, mũ bảo hiểm và trốn dưới gầm xe ôtô đỗ ở bãi đậu xe của chung cư thuộc địa chỉ đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương thì bị người dân và lực lượng tuần tra Công an thành phố D bắt giữ.

Tại Bản kết luận đinh giá tài sản số 131/BBĐG-HĐĐGTS ngày 24/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân thành phố D, kết luận: xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, số khung 08Y109663, số máy 12E1109717, biển số: 68F1-4328, trị giá: 4.500.000 đồng.

Ngày 24/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D, tỉnh Bình Dương đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”, khởi tố đối với Nguyễn Tri P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 2 điều 173 cuả Bộ luật Hình sự. Đồng thời áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam để điều tra cho đến nay.

Vật chứng thu giữ; xử lý vật chứng:

  • + 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, số khung 08Y109663, số máy 12E1109717, biển số: 68F1-4328. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố D ra quyết định trả lại cho anh Vũ Văn Q là chủ sở hữu.
  • + 01 (một) đầu đoản bằng kim loại, dẹp nhọn đề nghị tịch thu tiêu huỷ.

Tại Cáo trạng số 401/CT-VKS ngày 29 tháng 10 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Nguyễn Tri P về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Tri P với mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đề nghị xem xét, giải quyết. Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn.

Bị hại anh Vũ Văn Q có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt và có văn bản trình bày ý kiến: Về trách nhiệm dân sự: anh Vũ Văn Q đã nhận lại xe môtô nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, số khung 08Y109663, số máy 12E1109717, biển số 68F1-4328, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm. Về trách nhiệm hình sự: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận, trong lời nói sau cùng, bị cáo Nguyễn Tri P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố D, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Tri P đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đã truy tố đối với bị cáo. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với những tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 21 giờ 20 phút ngày 14/7/2023 tại 01 đường N, khu phố T, phường D, thành phố D, tỉnh Bình Dương, bị cáo Nguyễn Tri P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô, nhãn hiệu Honda, màu đỏ đen, biển số: 68F1-4328, trị giá 4.500.000 đồng của anh Vũ Văn Q. Bị cáo đã 04 lần bị Tòa án xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, đã tái phạm, chưa được xóa án tích nay lại tiếp tục có hành vị lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản để chiếm đoạt trái pháp luật tài sản của người khác có giá trị trên 2.000.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” với tình tiết định khung “tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo với tội danh, điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Tri P là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại nơi xảy ra vụ án, gây tâm lý hoang mang cho người dân tại địa phương. Về nhận thức, bị cáo nhận thức rõ hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của bị hại là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vì tham lam, tư lợi bị cáo vẫn cố ý thực hiện, bất chấp hậu quả xảy ra. Bị cáo đã bị Tòa án xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội trộm cắp tài sản nhưng sau khi chấp hành xong bị cáo lại tiếp tục có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác chứng tỏ bị cáo có thái độ xem thường pháp luật. Vì vậy, để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự: đã được giải quyết xong nên không đề nghị xem xét, giải quyết.

[7] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn là công cụ phương tiện phạm tội không có giá trị sử dụng nên đề nghị tịch thu, tiêu hủy.

[8] Xét đề nghị về hình phạt của đại diện Viện Kiểm sát là nặng nên Hội đồng xét xử sẽ quyết định mức hình phạt đối với bị cáo nhẹ hơn mức đề nghị của đại diện đại diện Viện Kiểm

[9] Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 298, 299, 326, 327, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tri P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Về hình phạt: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tri P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy: 01 đầu đoản bằng kim loại dẹp, nhọn.

(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 31/10/2023 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố D với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Dĩ An)

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Nguyễn Tri P phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An;
  • - Công an thành phố Dĩ An;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An;
  • - Phòng PV06 - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Ủy ban nhân dân nơi bị cáo cư trú;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Tuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 369/2023/HS-ST ngày 21/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 369/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Tri P phạm tội "Trôm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger