|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 369/2023/HS-ST Ngày: 19 - 12 - 2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Nam.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Trực và bà Đoàn Thị Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế tham gia phiên tòa: Ông Lê Bá Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 338/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 333/2023/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:
Trần Nguyên B (Tên gọi khác: X), sinh ngày 25/02/1973 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: Số B B, phường G, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn T (đã chết) và bà Ngô Thị Như H; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân:
- Tháng 7/2012 bị đưa vào Trường G và giải quyết việc làm số 3 tại tỉnh Bình Dương với thời hạn 24 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma tuý”.
- Ngày 04/9/2015 bị Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 38/2015/HSST);
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/8/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên toà;
- Người chứng kiến: Ông Trương Văn T1; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 08/8/2023, Trần Nguyên B đón xe khách đi từ Huế vào bến xe thành phố Đ tìm gặp và mua của một thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) 1.000.000 đồng ma túy dạng đá về sử dụng. Sau khi mua được ma túy, B cất giấu túi ma túy trong người rồi đón xe khách về lại Huế. Khi về phòng trọ của mình ở địa chỉ: Số A, đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, B lấy ra một ít ma tuý đề sử dụng, số ma túy còn lại thì B cất giấu trong tủ áo quần của mình để sử dụng lần sau. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 11/8/2023, Công an phường T, thành phố H tiến hành kiểm tra phòng trọ B đang ở phát hiện B đang cất giấu ma túy trong tủ áo quần của mình nên lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và tiến hành thu giữ tang vật.
* Vật chứng thu giữ gồm: 01 túi ni lông màu trắng viền màu đỏ, bên trong có chứa tinh thể rắn màu trắng; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen.
* Tại Bản kết luận giám định số 498/KL-KTHS ngày 15/8/2023, Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: "Mẫu tinh thể rắn màu trắng gửi giám định có khối lượng là 2,1319g (Hai phẩy một ba một chín gam), là ma tuý, loại Methamphetamine".
Sau khi giám định, cơ quan giám định đã hoàn lại đối tượng giám định cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 355/CT-VKSTPH ngày 08/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo Trần Nguyên B về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Huế thực hành quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Nguyên B từ 01 năm 06 tháng đến 01 năm 09 tháng tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy còn lại sau khi giám định. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Nguyên B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về quyết định, hành vi tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, không ai có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Trần Nguyên B đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình; lời nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 11/8/2023, tại nhà trọ ở địa chỉ: Số A, đường T, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Nguyên B có hành vi tàng trữ trái phép trong tủ áo quần của mình một túi ma túy loại Methamphetamine với khối lượng 2,1319 gam nhằm mục đích để sử dụng thì bị Công an phát hiện bắt quả tang.
Với hành vi đã gây ra như trên, bị cáo Trần Nguyên B đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế truy tố bị cáo về tội danh, điểm, khoản và điều luật tại bản cáo trạng số 355/CT-VKSTPH ngày 08/11/2023 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:
Bị cáo Trần Nguyên B là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được ma túy là chất gây nguy hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thần của con người, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội và chất bị Nhà nước cấm. Tuy nhiên, chỉ vì để thỏa mãn việc chơi bời, ham muốn của bản thân, bị cáo vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng. Hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, đã trực tiếp xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy và gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Mặc dù bị cáo không có tiền án, tiền sự; không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào và đã thành khẩn khai báo nhưng bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về hành vi liên quan đến ma túy. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra nhằm đủ tác dụng trừng trị, răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy chỉ nhằm mục đích để sử dụng, không có thu lợi gì nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về xử lý vật chứng: Ma túy là chất cấm nên cần tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ trong vụ án còn lại sau khi giám định và các vật liệu dùng để bao gói niêm phong khi gửi giám định. Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen: Bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí: Buộc bị cáo Trần Nguyên B phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyên B (Tên gọi khác: X) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- 1. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Nguyên B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/8/2023.
- 2. Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy đã thu giữ trong vụ án (còn lại sau khi giám định) và các vật liệu dùng để bao gói, niêm phong khi gửi giám định. Tất cả được niêm phong kín bằng giấy màu trắng và băng keo trong; bên ngoài có 02 dấu tròn đỏ của Phòng Kỷ thuật hình sự Công an tỉnh T, 02 chữ ký ghi họ tên điều tra viên Trần Văn V, 02 chữ ký ghi rõ họ tên giám định viên Trần N và dòng chữ “H1 mẫu vật vụ Trần Nguyên B, bắt ngày 11/8/2023”.
- - Trả lại 01 điện thoại di động Nokia màu đen, số sê-ri 358270032539196 cho bị cáo Trần Nguyên B.
Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Huế lập ngày 08/11/2023.
- 3. Về án phí: Buộc bị cáo Trần Nguyên B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa nên có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Ngô Văn Nam |
Bản án số 369/2023/HS-ST ngày 19/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 369/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma túy
