Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 369/2024/HS-ST

Ngày 18 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Bảo
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Hòa
Bà Nguyễn Thị Kim Chi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Hoàng Yến - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 382/2024/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 368/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Kỳ B, sinh năm 1996, tại tỉnh Đồng Nai;

Nơi cư trú: tổ C, khu phố H, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: kinh doanh tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Minh C, sinh năm 1972 và bà Lý Thị T, sinh năm 1965; bị cáo có vợ là Nguyễn Lê Trâm A, sinh năm 1997 và có 01 con sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 28/11/2017, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 tại bản án số 493/2017/HSST. Ngày 15/12/2020, bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 tại bản án số 95/2020/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024, chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 861/LTG-CSĐT ngày 04/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Trần Thị H, sinh năm 1988 (có mặt)

Địa chỉ: số G, tổ I, khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lưu Nhiễu G, sinh năm 1997 (vắng mặt)

Địa chỉ: tổ C, khu phố H, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 15-4-2024, Lưu Kỳ B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 59T1-807.72 từ nhà tại tổ C, khu phố H, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai đến thành phố B để thu mua điện thoại di động cũ. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, khi B đến nhà số E khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai do chị Trần Thị H đang thuê thì B dừng xe lại, mua nước uống nhưng không có người, B đi vào bên trong nhà, phát hiện trên bàn gỗ trước cửa phòng ngủ có 01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 Promax, màu xanh tím (có ốp lưng nhựa màu trắng), không có người trông coi nên B nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại trên bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định trên, B lấy chiếc điện thoại di động của chị H bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng ra ngoài, lên xe về nhà, cất chiếc điện thoại vừa trộm cắp được vào tủ trong phòng ngủ của B, còn chiếc ốp lưng nhựa màu trắng, Bảo tháo và vứt bên đường. Qua kiểm tra định vị trên điện thoại, ngày 24-4-2024, anh Lê Văn Đ (là chồng chị H) phát hiện chiếc điện thoại bị trộm cắp và B tại cửa hàng Đ1 thuộc số A N khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai nên anh Đ báo Công an phường A mời B về làm việc. Tại đây, B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung nêu trên. Công an phường A lập hồ sơ chuyền Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B để điều tra, xử lý. Biên bản ghi lời khai, hỏi cung bị can bút lục số: 77-78, 79-80;

Biên bản ghi lời khai bị hại bút lục số: 50, 51; Biên bản ghi lời khai người làm chứng bút lục số: 45, 46-47.

Biên bản ghi lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bút lục số

Vật chứng thu giữ, gồm:

  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím, 01 (Một) hộp giấy loại hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax và 01 (Một) biên nhận thanh toán điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím thuộc sở hữu của chị Trần Thị H. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chị H. (Bút lục số 34, 35, 53, 53a)
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB, màu xanh thuộc sở hữu của Lưu Kỳ B, không liên quan đến sự việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho B. (Bút lục số 36, 82).
  • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 59T1-807.72, màu đen- xám trắng thuộc sở hữu của Lưu Nhiễu G (là em ruột của Lưu Kỳ B) đưa cho B mượn làm phương tiện đi lại, không biết B sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị G. (Bút lục số 37, 56).
  • - 01 (Một) USB ghi lại nội dung sự việc: lưu hồ sơ vụ án. (Bút lục số 40).
  • - Đối với chiếc ốp lưng nhựa màu trắng, sau khi trộm cắp được B đã vứt bên đường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 125/KL-HĐĐGTS ngày 26-4-2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 (Một) điện thoại di động Iphone 14 Promax loại 128Gb có trị giá là 21.432.000₫ (Hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn đồng) và 01 (Một) ốp điện thoại: không định giá”. (Bút lục số 25-26).

Về trách nhiệm dân sự: chị Trần Thị H đã nhận lại tài sản nên không yêu cầu bồi thường. Bút lục số (50, 53).

Tại bản Cáo trạng số: 381/CT-VKSBH ngày 26/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Lưu Kỳ B về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lưu Kỳ B phạm tội “Trộm cắp tài sản”; về hình phạt: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lưu Kỳ B từ 14 tháng đến 16 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Do bị hại và người liên quan không yêu cầu gì nên không xem xét. Về vật chứng, quá trình điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Quá trình tranh tụng, bị cáo Lưu Kỳ B thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội nên không tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Nói lời sau cùng, bị cáo nhận thức hành vi của mình là sai, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo được sớm về với gia đình chăm sóc vợ con và hòa nhập với cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định về thẩm quyền, trình tự, thủ tục của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử do đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án, không có yêu cầu về mặt dân sự và các yêu cầu khác; do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.

Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 15-4-2024, tại nhà số E khu phố B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lưu Kỳ B đã có hành vi lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Promax loại 128Gb có ốp lưng điện thoại có trị giá là 21.432.000₫ (Hai mươi mốt triệu bốn trăm ba mươi hai nghìn đồng) của chị Trần Thị H.

Do đó, hành vi của bị cáo Lưu Kỳ B đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm: Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại. Nhằm mục đích muốn có tiền tiêu xài, phục vụ cho lợi ích cá nhân mà bị cáo đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.

[4] Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Nhưng bị cáo có nhân thân xấu, ngày 28/11/2017 bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 tại bản án số 493/2017/HSST. Ngày 15/12/2020 bị cáo bị Tòa án nhân dân quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 tại bản án số 95/2020/HS-ST, bị cáo đã chấp hành xong hình phạt của các bản án trên nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục phạm tội trộm cắp tài sản.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có con còn nhỏ, tại phiên tòa người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.

[5] Về vật chứng vụ án:

  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax 128GB, màu tím, 01 (Một) hộp giấy loại hộp đựng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax và 01 (Một) biên nhận thanh toán điện thoại di động Iphone 14 Promax màu tím thuộc sở hữu của chị Trần Thị H. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã thu hồi trả lại cho chị H là đúng nên Hội đồng xet xử không xem xét.
  • - 01 (Một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12 Promax 128GB, màu xanh thuộc sở hữu của Lưu Kỳ B, không liên quan đến sự việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho B là đúng nên Hội đồng xet xử không xem xét.
  • - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 59T1-807.72, màu đen- xám trắng thuộc sở hữu của Lưu Nhiễu G (là em ruột của Lưu Kỳ B) đưa cho B mượn làm phương tiện đi lại, không biết B sử dụng làm phương tiện phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho chị G là đúng nên Hội đồng xet xử không xem xét.
  • - Đối với chiếc ốp lưng nhựa màu trắng, sau khi trộm cắp được B đã vứt bên đường nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Kỳ B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Xử phạt bị cáo Lưu Kỳ B 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 25/4/2024.

  1. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:

Buộc bị cáo Lưu Kỳ B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  1. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan CSĐT CA TP. Biên Hòa;
  • - Cơ quan THAHS CA TP. Biên Hòa;
  • - Phòng PV06 CA T. Đồng Nai;
  • - Chi cục THADS TP. Biên Hòa;
  • - Nhà tạm giữ Công an thành phố Biên Hòa;
  • - UBND phường/xã nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Quốc Bảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 369/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 369/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Kỳ B phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger