|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 369/2025/HNGĐ-ST Ngày 11 tháng 12 năm 2025 |
|
|
V/v “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Văn Ba
Ông Nguyễn Kim Thành
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng: Bà Phạm Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 11 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 223/2025/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2025 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 224/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 11 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số: 143/2025/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 12 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh ngày: 07/10/1992; Địa chỉ: D L, tổ A, phường N, thành phố Đà Nẵng. (Có mặt)
- Bị đơn: Ông Mai Xuân Đ, sinh ngày: 18/5/1990; Địa chỉ: tổ B, K, phường N, thành phố Đà Nẵng. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:
Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G và ông Mai Xuân Đ kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường H, quận N, thành phố Đà Nẵng theo Giấy chứng nhận kết hôn số 34, Quyển số 02 ngày 10/02/2010. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại tổ B, phường N, thành phố Đà Nẵng. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống dẫn tới thường xuyên cãi vã, bà Nguyễn Thị G không tin tưởng ông Mai Xuân Đ về mặt tình cảm, ông Mai Xuân Đ có hành vi đe doạ, bạo lực đối với vợ. Bà Nguyễn Thị G xác định đến nay tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Toà án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Mai Xuân Đ.
Về con chung: Bà Nguyễn Thị G xác định vợ chồng có 03 con chung là Mai Xuân T, sinh ngày 18/06/2010, Mai Thảo M, sinh ngày 24/8/2012 và Mai Thảo N, sinh ngày 24/8/2012. Ly hôn bà Nguyễn Thị G có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung, yêu cầu ông Mai Xuân Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, cả 03 con chung mỗi tháng là 6.000.000 đồng.
Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị G xác định bà và ông Mai Xuân Đ không có tài sản chung và nợ chung.
- Bị đơn ông Mai Xuân Đ đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự, tuy nhiên ông vẫn vắng mặt, không có ý kiến.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng:
Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án đã tuân theo đúng pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử.
Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án.
Thư ký đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình được quy định tại khoản 5 Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến thời điểm mở phiên tòa, người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt đã không chấp hành các quy định của pháp luật.
Ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84, 116, 117, 118 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đối với ông Mai Xuân Đ.
Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Mai Xuân Đ; Về con chung: Giao 03 con chung Mai Xuân T, sinh ngày 18/06/2010, Mai Thảo M, sinh ngày 24/8/2012 và Mai Thảo N, sinh ngày 24/8/2012 cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt thành niên, ông Mai Xuân Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, cả 03 con chung mỗi tháng 6.000.000 đồng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi con chung thành niên. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị G xác định không có tài sản chung và nợ chung, đối với ông Mai Xuân Đ vắng mặt không có ý kiến về tài sản và nợ chung nên không đề cập giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Sau khi đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm. Sau khi thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
[1.1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Về thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bị đơn ông Mai Xuân Đ cư trú tại phường N, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 - Đà Nẵng theo quy định tại Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3]. Bị đơn ông Mai Xuân Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa không có lý do nên Hội đồng xét xử vắng bị đơn theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị G và ông Mai Xuân Đ xác lập trên cơ sở tự nguyện, đủ điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, là hôn nhân hợp pháp được pháp luật công nhận và bảo vệ. Bà Nguyễn Thị G xác định trong quá trình chung sống giữa vợ chồng ông bà có phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, lối sống, bà Nguyễn Thị G không tin tưởng ông Mai Xuân Đ về mặt tình cảm, ông Mai Xuân Đ có hành vi đe doạ, bạo lực đối với bà Nguyễn Thị G. Đối với ông Mai Xuân Đ vắng mặt, không có ý kiến.
Hội đồng xét xử thấy rằng giữa các bên đương sự có mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến việc sống ly thân là có thật, việc bị đơn ông Mai Xuân Đ không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa cho thấy ông không còn muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, đời sống chung giữa hai người đã không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị G phù hợp với Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Mai Xuân Đ.
[2.2]. Về con chung: Bà Nguyễn Thị G xác định vợ chồng bà có 03 con chung chưa thành niên, ly hôn bà Nguyễn Thị G có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng 03 con chung. Ông Mai Xuân Đ vắng mặt không có yêu cầu gì về con chung.
Hội đồng xét xử xét thấy: Thực tế hiện nay con chung do bà Nguyễn Thị G chăm sóc, bà Nguyễn Thị G đủ khả năng nuôi dưỡng chăm sóc con chung, các con chung cũng có nguyện vọng muốn ở với mẹ, không cần thiết phải xáo trộn cuộc sống hiện nay của các con chung; đối với ông Mai Xuân Đ vắng mặt không có yêu cầu gì về việc nuôi con chung, do đó căn cứ vào Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị G, giao 03 con chung cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt thành niên.
[2.3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Nguyễn Thị G yêu cầu cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng, cả 03 con chung mỗi tháng là 6.000.000 đồng. Ông Mai Xuân Đ vắng mặt không có ý kiến về việc cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy: Theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 7 Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì trong trường hợp các bên đương sự không thoả thuận được mức cấp dưỡng nuôi con chung thì Toà án ấn định căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng, mức cấp dưỡng không thấp hơn 50% mức lương tối thiểu vùng tại nơi người cấp dưỡng đang cư trú cho mỗi tháng đối với mỗi người con. Mức lương tối thiểu vùng ở địa phương hiện nay là 4.410.000 đồng/tháng, bà Nguyễn Thị G yêu cầu mức cấp dưỡng mỗi người con chung 2.000.000 đồng thấp hơn quy định nên cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị G buộc ông Mai Xuân Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung 2.000.000 đồng/tháng, cả 03 con chung là 6.000.000 đồng/tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi các con chung lần lượt thành niên là phù hợp.
[2.4]. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị G xác định vợ chồng bà không có tài sản chung và nợ chung. Đối với ông Mai Xuân Đ vắng mặt không có ý kiến, do đó Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
[3]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án thì bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình, ông Mai Xuân Đ phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.
[4]. Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
[5]. Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 2 - Đà Nẵng phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 116, Điều 117, Điều 118 Luật Hôn nhân gia đình; khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 266, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung” của bà Nguyễn Thị G đối với ông Mai Xuân Đ.
- Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị G được ly hôn với ông Mai Xuân Đ (Giấy chứng nhận kết hôn số 34, Quyển số 02 do Ủy ban nhân dân phường H, quận N (nay là Ủy ban nhân dân phường N), thành phố Đà Nẵng cấp ngày 10/2/2010 không còn giá trị pháp lý.
-
Về con chung: Giao 03 con chung là Mai Xuân T, sinh ngày 18/6/2010, Mai Thảo M, sinh ngày 24/8/2012 và Mai Thảo N, sinh ngày 24/8/2012 cho bà Nguyễn Thị G trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con chung lần lượt thành niên.
Ông Mai Xuân Đ cấp dưỡng nuôi mỗi con chung mỗi tháng 2.000.000₫ (Hai triệu đồng), cả 03 con chung mỗi tháng 6.000.000₫ (Sáu triệu đồng). Thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 12 năm 2025 cho đến khi các con chung lần lượt thành niên.
Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền và nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung theo quy định của pháp luật. Khi cần thiết vì lợi ích của con chung, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con.
Kể từ ngày người có quyền có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Án phí dân sự sơ thẩm:
Án phí tranh chấp hôn nhân và gia đình: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà Nguyễn Thị G đã nộp theo biên lai thu số: 0002849 ngày 06 tháng 10 năm 2025 của Thi hành án dân sự thành phố Đà Nẵng.
Án phí cấp dưỡng nuôi con: Ông Mai Xuân Đ phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng)
-
Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 369/2025/HNGĐ-ST ngày 11/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG về ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 369/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa bà G và ông Đ
