|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 369/2025/DS-PT
Ngày: 14-11-2025
V/v “Kiện đòi đất lấn chiếm”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền.
Các Thẩm phán: Ông Y Phi Kbuôr, bà Lưu Thị Thu Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thúy An – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk: Ông Phan Văn Công – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2025, tại Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Lắk xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 320/2025/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2025 về việc “Kiện đòi đất lấn chiếm”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DS-ST ngày 12/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk) bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 366/2025/QĐ-PT ngày 21/10/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, sinh năm 1966; địa chỉ: 6 V, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
- Bị đơn:
- Ông Mai Văn L, sinh năm 1954, bà Mai Thị B; cùng địa chỉ: Tổ dân phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk); ông L có mặt, bà B vắng mặt.
- Bà Mai Thị Lan P, sinh năm 1987; địa chỉ: 3 N, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường T, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
- Người làm chứng:
- Bà Đoàn Thị N; địa chỉ: 7, Hẻm E, đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.
- Ông Phạm Như C; địa chỉ: Thôn T, xã E, huyện C, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã C, tỉnh Đắk Lắk); vắng mặt.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quyết T, sinh năm 1990; địa chỉ: K B, phường Đ, thành phố Đà Nẵng; có mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Mai Thị Hồng L1, sinh năm 1986; địa chỉ: 7, Hẻm E, đường V, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (nay là phường B, tỉnh Đắk Lắk); có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H trình bày:
Sau một thời gian dài phục vụ trong Q, ngày 12/09/1987, vợ chồng tôi ông Nguyễn Ngọc S, Nguyễn Thị Thúy H được Tư lệnh Binh đoàn 12, Sư đoàn D cấp cho một mảnh đất tại phường T, Tp B, tỉnh Đắk Lắk, diện tích 856,9m². Năm 2005, chính quyền địa phương tiến hành đo đạc, ký giáp ranh, xác định ranh giới sử dụng đất. Năm 2006, UBND cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) theo Quyết định số 60/QĐ-UBND, ngày 23/01/2006, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 61, tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk đứng tên ông Nguyễn Ngọc S, bà Nguyễn Thị Thúy H. Ngày 01/06/2017, thửa đất số 04 được tách thành hai thửa đất mới là thửa 32, tờ bản đồ số 61, diện tích 641,5m² và thửa 33, tờ bản đồ số 61, diện tích 215,4m². Năm 2021, ông Nguyễn Ngọc S chết, Năm 2022, bà Nguyễn Thị Thúy H tiến hành tách thửa 32, tờ bản đồ số 61 thành ba thửa mới: thửa 36 (106,7m²) mang tên Nguyễn Thị Thúy H; thửa 37 (380,3m²) mang tên Nguyễn Thị Thúy H; thửa 38 (154,5m²) tặng cho con trai là ông Nguyễn Nguyên N1. Đối với thửa đất số 33 thì được điều chỉnh biến động thừa kế cho bà Nguyễn Thị Thúy H.
Đến năm 2024, khi dự định xây dựng lại ngôi nhà để ổn định cuộc sống, tôi tiến hành san lấp mặt bằng, đo đạc lại diện tích đất, tôi nhận ra tại thửa đất số 33, tiếp giáp là phần đất của ông Mai Văn L, bà Mai Thị B và bà Mai Thị Lan P bị lấn chiếm một phần theo kết quả đo đạc là 26,9m². Tôi xác định ranh giới giữa hai bên là hàng rào lưới B40 hiện nay không còn, đối với hàng rào hiện tại do bị đơn mới xây dựng. Thời điểm được cấp đất là đất nông nghiệp trồng cây cà phê nên không biết phía bên gia đình ông L, bà B xây dựng móng chuồng heo lấn chiếm sang phần đất nhà tôi.
Vì vậy, tôi khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết tuyên buộc ông Mai Văn L, bà Mai Thị B và bà Mai Thị Lan P trả lại cho tôi diện tích đất là 26,9m².
Đại diện theo ủy quyền của ông Mai Văn L, bà Mai Thị B trình bày:
Ông L và bà B nguyên là quân nhân Sư đoàn 470. Năm 1985, ông L, bà B được cấp 1 thửa đất (thửa đất ấy hiện nay gia đình bà Nguyễn Thị Thúy H đang ở), sau khi được cấp đất ông L, bà B cất mấy gian nhà tạm để ở. Được hơn 1 năm sau, do thửa đất ở trên cao xa nguồn nước không thuận tiện cho việc chăn nuôi trồng trọt nên xin Sư đoàn cấp cho thửa đất khác. Sư đoàn chấp thuận đề xuất và cấp cho ông L, bà B thửa đất liền kề với thửa đất cũ. Sau khi được cấp đất ông L, bà B rào thửa đất bằng cọc sắt và dây kẽm gai, với sự kiểm tra thống nhất của đơn vị, vì lúc bấy giờ thửa đất nhà bà Nguyễn Thị Thúy H đang ở hiện nay là thuộc đơn vị quản lý. Sau đó, gia đình ông L, bà B đã xây một cái chuồng heo giáp ranh giữa 2 thửa đất để chăn nuôi heo. Mấy tháng sau đơn vị cấp thửa đất cũ trước đây cấp cho ông L, bà B cho nhà bà Nguyễn Thị Thúy H, khi tiếp nhận thửa đất và chuyển đến ở gia đình bà Nguyễn Thị Thúy H không có ý kiến gì về hàng rào ranh giới giữa hai thửa đất. Năm 2005, khi đo đất làm GCNQSDĐ, ông L, bà B đi các hộ hai bên xin ký giáp ranh, nhà bà Nguyễn Thị Thúy H đã ký giáp ranh cho ông L, bà B mà không có ý kiến gì khác. Năm 2017, khi đi tách thửa đất để cho đất các con, Phòng T1 yêu cầu gia đình tôi phải đo lại toàn bộ diện tích đất hiện có và xin ký giáp ranh với các hộ hai bên, ông L, bà B một lần nữa đến nhà bà Nguyễn Thị Thúy H ký giáp ranh và gia đình bà H đã ký giáp ranh cho ông L, bà B mà không có ý kiến gì khác. Sau đó ông L, bà B tách một phần thửa đất số 44 tờ bản đồ số 57 thành 3 thửa đất liền kề cho hai con và một người cháu. Được biết, năm 2022 gia đình bà Nguyễn Thị Thúy H cũng đã phân lô tách thửa hết diện tích đất còn lại của gia đình bà. Đến cuối tháng 10/2024 gia đình bà H đề nghị xin mở rào để múc rãnh xây tường, được sự đồng ý của gia đình ông L, bà B, gia đình bà H đã gỡ rào ở vị trí nền chuồng chăn nuôi heo cũ của nhà ông L, bà B và múc rãnh xây tường theo hàng rào ranh giới giữa hai nhà. Sau đó, bà H tiếp tục đề nghị gỡ tiếp hàng rào ở những vị trí còn lại giáp ranh giới với nhà bà H (Lô đất giáp ranh này hiện đã cho con gái là Mai Thị Lan P), nhưng gia đình ông L, bà B không đồng ý. Gia đình bà H cho người sang nhà xin đo đạc lại đất và cho rằng ông L, bà B lấn chiếm đất đai và cho máy múc đòi san vị trí nền chuồng heo cũ của ông L, bà B vì cho rằng đây là đất đang tranh chấp, chúng tôi đã báo việc này với tổ dân phố và gia đình bà đi kiện gia đình tôi lấn chiếm đất đai. Chúng tôi khẳng định không lấn chiếm đất của nguyên đơn nên không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bị đơn bà Bùi Thị Lan P1 trình bày:
Năm 2017, tôi được bố mẹ là ông Mai Văn L, bà Mai Thị B tặng cho lô đất, thửa 240, tờ bản đồ 57, tọa lạc tại số G V, phường T, Tp ., tỉnh Đắk Lắk. Khi sang tên cho tôi quyền sử dụng lô đất trên bờ rào ranh giới có sẵn từ trước đến nay và tôi chưa hề xê dịch hay làm gì trên thửa đất đó. Tháng 10 năm 2024, tôi có nhận được giấy mời tham gia hòa giải của UBND phường T do gia đình bà H kiện tôi lấn đất gia đình bà H. Bà H kiện gia đình tôi lấn đất là không có cơ sở.
Người làm chứng bà Đoàn Thị N trình bày:
Tôi là hàng xóm của bà Nguyễn Thị Thúy H, cụ thể là phần đất tôi sử dụng nằm phía sau đất của bà H và bên cạnh phần đất của ông L, bà B. Gia đình tôi được Sư đoàn 470 cấp đất từ năm 1984, tôi sử dụng đất từ đó cho tới nay. Theo tôi được biết thì phần giáp ranh đất giữa bà H và gia đình ông L, bà B là đường thẳng hơi lõm phần cuối đất bà H khoảng tầm 15cm – 20 cm. Đối với hàng rào kẽm gai và móng chuồng heo phía gia đình ông L, bà B xây dựng thời gian nào thì tôi không biết. Ngoài ra tôi không biết nội dung gì khác.
Người làm chứng ông Phạm Như C trình bày:
Tôi là con của bà Đoàn Thị N. Trước đây tôi ở đường H V, Tp B. Theo tôi được biết thì trước đây phần đất của bà H đang sinh sống được Bộ chỉ huy quân sự cấp cho gia đình tôi, nhưng do phần đất này dốc nên gia đình tôi đề nghị được cấp vị trí khác nên phần đất này cấp lại cho nhà bà H, ông S còn gia đình tôi được cấp phần đất phía sau đất nhà bà H. Đối với phần giáp ranh giữa đất nhà bà H và nhà ông L, bà B là đường thẳng, ranh giới là cọc sắt được kéo dây kẽm gai. Hiện nay cọc sắt và dây kẽm gai không còn. Đối với hàng rào ranh giới hiện tại do ai xây dựng thì tôi không biết.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DS-ST ngày 12/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk) đã quyết định:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 144; Điều 147; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 166; Điều 203 của Luật Đất đai.
Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu bà Mai Thị B, ông Mai Văn L, bà Mai Thị Lan P có nghĩa vụ trả lại diện tích đất 26,9m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra bản án còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 23/6/2025, nguyên đơn kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm.
Tại cấp phúc thẩm, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo; bị đơn không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn.
Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Lắk tại phiên tòa:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký Tòa án và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án chấp hành đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị HĐXX căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H, huỷ án sơ thẩm giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H kháng cáo và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm trong thời hạn luật định là kháng cáo hợp lệ, được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Xét nguồn gốc đất của nguyên đơn, thấy: Năm 1987, vợ chồng ông S, bà H được Tư lệnh Binh đoàn A, Sư đoàn 470 cấp đất theo Quyết định cấp đất số 11 ngày 12/9/1987, diện tích 730m² tại phường T, Tp B, tỉnh Đắk Lắk. Ngày 23/01/2006, ông S, bà H được UBND cấp GCNQSDĐ số AD 544763, thửa đất số 04, tờ bản đồ số 61, diện tích 856,9m². Ngày 01/06/2017, thửa đất số 04 được tách thành hai thửa đất mới là thửa 32, tờ bản đồ số 61, diện tích 641,5m² và thửa 33, tờ bản đồ số 61, diện tích 215,4m². Năm 2021, ông S chết. Năm 2022, bà H tiến hành tách thửa 32, tờ bản đồ số 61 thành ba thửa mới: thửa 36 (106,7m²) mang tên H; thửa 37 (380,3m²) mang tên H; thửa 38 (154,5m²) tặng cho con trai là ông Nguyễn Nguyên N1. Đối với thửa đất số 33 được điều chỉnh biến động thừa kế cho bà H.
[2.2] Xét nguồn gốc đất của bị đơn, thấy: Năm 1985, ông L, bà B được Sư đoàn 470 cấp 1 thửa đất (hiện là thửa đất bà H đang sử dụng), sau khi được cấp đất ông L, bà B cất nhà tạm để ở, một thời gian sau ông L, bà B xin và được Sư đoàn 470 cấp đổi cho thửa đất khác hiện là thửa đất đang sử dụng và liền kề với thửa đất cũ. Năm 2005, hộ ông L được cấp GCNQSDĐ số AD 548172, số vào sổ HO 0368, thửa đất số 44, tờ bản đồ số 57, diện tích 1.873,6m². Năm 2017, hộ ông L được cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ số CL 068067, thửa đất số 44, tờ bản đồ số 57, diện tích tăng lên 1.891,7m² và tách thửa 44 thành 4 thửa đất, gồm: các thửa đất số 240, 241, 242 và thửa 243. Năm 2018, hộ ông L lập hợp đồng tặng cho con gái bà Mai Thị Lan P thửa đất 240, diện tích 124,9m², được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số CM 197444; chuyển nhượng cho cháu Mai Hoàng N2 (bà Bùi Thị H1 mẹ ruột) là người đại diện đương nhiên theo pháp luật của cháu N2, thửa đất 241, diện tích 124,8m², được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số CM 197237, tặng cho bà Mai Thị Hồng L1 thửa đất 242, diện tích 124,8m2, được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp GCNQSDĐ số CM 197238.
Như vậy, đất của các bên đều có nguồn gốc rõ ràng.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc ông L, bà B và bà P phải trả lại 26,9m² đất lấn chiếm, thấy rằng: nguồn gốc đất của các bên đều do Tư lệnh Binh đoàn 12, Sư đoàn 470 cấp, hộ ông L, bà B được cấp trước (năm 1985), hộ bà H được cấp sau (năm 1987), sau khi được cấp đất các bên tạo lập tài sản sinh sống từ đó cho đến nay. Hai thửa đất có ranh tiếp giáp nhau. Hộ ông L, bà B được giao đất quản lý, sử dụng trước và đã rào thửa đất bằng cọc sắt kéo dây kẽm gai, đến năm 1987 ông S, bà H mới được cấp đất, khi nhận đất quản lý sử dụng đã có ranh giới phân định với đất hộ ông L.
Xét kết quả trích đo hiện trạng thửa đất do Công ty TNHH Đ thực hiện ngày 11/4/2025, diện tích đất thực tế nguyên đơn đang sử dụng là 866m2, diện tích hộ ông L, bà B sử dụng là 2.304,2m². Như vậy, các bên đều sử dụng diện tích đất thực tế tăng so với diện tích đất được cấp GCNQSDĐ. Cụ thể, Quyết định cấp đất năm 1987 nguyên đơn được cấp diện tích 730m², GCNQSDĐ cấp năm 2006 diện tích 856,9m², đo đạc thực tế hiện tại diện tích 866m². Đối với đất của bị đơn năm 2005 GCNQSDĐ cấp diện tích 1.873,6m², GCNQSDĐ năm 2017 kê khai cấp lại, cấp đổi có diện tích 1.891,7m², đo đạc thực tế hiện tại diện tích 2.304,2m². Xét hồ sơ xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố B cung cấp (tại bút lục 85) Biên bản kiểm tra hiện trạng lập ngày 27/6/2017 có nội dung “Hộ ông Mai Văn L xin cấp đổi GCNQSDĐ đối với thửa 44, tờ bản đồ 57, diện tích 1.873,6m² theo GCNQSDĐ số AD 548172 được U cấp ngày 17/11/2005, thực tế ông Mai Văn L sử dụng 2.195,2m² chưa trừ diện tích hành lang suối, diện tích tăng là do trước đây có sai số đo đạc, chủ sử dụng không nhận chuyển nhượng thêm, cũng như không lấn chiếm của các hộ liền kề, ranh giới và hình thể thửa đất không thay đổi...”. Tại (bút lục 84) Biên bản xác minh ranh giới mốc giới sử dụng đất do UBND phường T lập năm 2017 có chữ ký xác nhận của các hộ có đất giáp ranh với đất của hộ ông L trong đó có ông Nguyễn Ngọc S (chồng bà H). Như vậy, tại thời điểm năm 2017 hộ ông L xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ diện tích đất tăng đã xác định rõ nguyên nhân đồng thời ranh giới sử dụng không thay đổi được chính quyền địa phương và các hộ có đất giáp ranh trong đó có ông S ký xác nhận.
Xét quá trình quản lý sử dụng đất của các bên thấy rằng: Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ thể hiện về ranh giới giữa hai thửa là hàng rào trụ sắt V, kéo lưới B40, tại vị trí đất tranh chấp còn có móng xây chuồng heo đều do hộ ông L tạo lập từ năm 1987. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa phúc thẩm bà H xác nhận gia đình sinh sống trên đất liên tục từ khi được cấp năm 1987 cho đến nay nhưng xét lời khai của bà H cho rằng hộ ông L xây móng chuồng heo trên diện tích đất và xây hàng rào phân định ranh giới giữa hai nhà khi nào bà không biết nên bà không phản đối, không khiếu nại gì là không phù hợp với lẽ thông thường. Hơn nữa, bà H cho rằng bà không biết hộ ông L có hành vi lấn chiếm diện tích 26,9m² đất từ khi nào cho đến khi gia đình bà có nhu cầu xây dựng nhà mới, bà xin dỡ hàng hàng cũ, thuê đo đạc lại mới phát hiện hàng rào ranh giới đất giữa hai nhà không thẳng như trong GCNQSDĐ được cấp, ngoài ra bà H không có tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh cho lời trình bày của mình, không được hộ ông L thừa nhận. Do đó, Bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp với quá trình lịch sử sử dụng đất của các bên.
[3] Xét thấy, GCNQSDĐ cấp cho hộ ông L nhưng cấp sơ thẩm không đưa các thành viên hộ gia đình tham gia tố tụng là thiếu sót, vi phạm. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm ông L, bà B xác nhận hộ ông L gồm có các thành viên gồm: chồng Mai Văn L, vợ Mai Thị B, các con Mai Văn N3, sinh năm 1983 (đã chết), Mai Thị Hồng L1, sinh năm 1986 và Mai Thị Lan P, sinh năm 1987. Tại thời điểm ông L, bà B được Sư đoàn 470 cấp đất năm 1985 cho đến khi được cấp GCNQSDĐ năm 2005 cho hộ gia đình các con còn nhỏ đang được vợ chồng ông L, bà B chăm sóc nuôi dưỡng không có công đóng góp, ông N3 đã chết, bà P là bị đơn và bà L1 tham gia tố tụng với tư cách đại diện ủy quyền của nguyên đơn đồng ý với lời trình bày của ông L, bà B. Xét thấy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông L, bà B và bà P phải trả diện tích đất lấn chiếm 26,9m², diện tích này một phần nằm trong thửa đất của ông L, bà B và nằm một phần trong thửa đất của bà P nhưng cấp sơ thẩm không yêu cầu nguyên đơn xác định rõ diện tích cụ thể mỗi bị đơn phải trả cho nguyên đơn. Xét thấy, cấp sơ có thiếu sót, vi phạm như trên cần nghiêm túc rút kinh nghiệm. Tuy nhiên, không làm thay đổi nội dung vụ án, không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các thành viên hộ ông L và như phân tích tại mục [2] yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên không ảnh hưởng đến công tác thi hành án. Do đó, không cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm.
Xét thấy, các bên đương sự sử dụng đất có diện tích thực tế và diện tích được cơ quan có thẩm quyền cấp GCNQSDĐ không phù hợp với nhau. Tuy nhiên, không có yêu cầu hủy GCNQSDĐ nên cấp sơ thẩm không đưa Ủy ban nhân dân tham gia tố tụng là phù hợp. Người sử dụng đất có quyền xin cấp lại, cấp đổi GCNQSDĐ đúng diện tích thực tế theo quy định của luật Đất đai.
[4] Xét kháng cáo của nguyên đơn và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk, HĐXX thấy: Như nhận định và phân tích tại [2], bản án sơ thẩm bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp, khách quan. Tại cấp phúc thẩm nguyên đơn không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ mới chứng minh cho yêu cầu khởi kiện là có căn cứ. Do đó, cần áp dụng khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H và đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Đắk Lắk, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 100/2025/DS-ST ngày 12/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk).
[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên cần buộc nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 100/2025/DS-ST ngày 12/6/2025 của Toà án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk (nay là Toà án nhân dân Khu vực 1, tỉnh Đắk Lắk).
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 144, Điều 147, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật Đất đai; Điều 27, Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy H về việc yêu cầu bà Mai Thị B, ông Mai Văn L, bà Mai Thị Lan P có nghĩa vụ trả lại diện tích đất 26,9m² tọa lạc tại phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
[2] Về án phí:
Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 4.807.000 (bốn triệu tám trăm lẻ bảy nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000910 ngày 26/02/2025 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk. Sau khi khấu trừ bà Nguyễn Thị Thúy H còn phải nộp 2.307.000 (hai triệu ba trăm lẻ bảy nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000 (ba trăm nghìn) đồng đã nộp tạm ứng tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000203 ngày 02/7/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Đắk Lắk, đã nộp đủ.
[3] Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị Thúy H phải chịu 10.861.000 (mười triệu tám trăm sáu mươi mốt nghìn) đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản, đã nộp đủ.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TANDTC; - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - P.TTNV&THA; - TAND khu vực 1; - Phòng THADS khu vực; - Đương sự; - Lưu HSVA. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Thanh Huyền |
Bản án số 369/2025/DS-PT ngày 14/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK về kiện đòi đất lấn chiếm
- Số bản án: 369/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Kiện đòi đất lấn chiếm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Thúy H yêu cầu Mai Văn L trả đất lấn chiếm
