|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 369/2023/HS-ST
Ngày: 27/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thúy Anh;
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đoàn Văn Minh;
Ông Phan Minh Tuấn.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Thùy Dung, Cán bộ Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thùy Dương, Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Nam Từ Liêm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 341/2023/TLST-HS ngày 09/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2023/QĐXXST-HS ngày 24/11/2023 và Quyết định hoãn phiên toà số 30/2023/QĐHPT ngày 08/12/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T2Sinh năm: 1994
Giới tính: Nam
Nơi ĐKHKTT: TDP Đ, thị trấn P, huyện C, Thanh Hóa.
Chỗ ở: P1711 V, T, N, Hà Nội.
Quốc tịch Việt Nam Dân tộc Kinh Tôn giáo Không
Trình độ văn hóa: 12/12 Nghề nghiệp: Nhân viên kinh doanh.
Con ông: Nguyễn Văn T (đã chết)
Con bà: Ngô Thị Lài Sinh năm: 1971
Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ hai.
Vợ: Lê Thị Ngọc S Sinh năm: 1995 Nghề nghiệp: Giáo viên
Có 01 con, con sinh năm 2021.
Tiền án tiền sự: không
Bị cáo đầu thú ngày 29/01/2023, bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/7/2023.
Hiện đang tạm giam tại Trại giam S1 - Công an thành phố H.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Đỗ T1, sinh 1987. HKTT: số A H, phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định (Có mặt).
- Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty CP T5. Địa chỉ: Ngã ba T - M, tổ dân phố số B N, phường Đ, quận N, thành phố Hà Nội. Đại diện theo pháp luật: ông Trần Đăng K – Tổng giám đốc. Đại diện theo uỷ quyền: chị Đặng Thị Vĩnh H – Giám đốc kinh doanh (Giấy UQ số 01 ngày 08/02/2023) (Vắng mặt).
+ Anh Nguyễn Tùng L, sinh 1991. HKTT: 90A, hẻm B đường Y, L, quận Đ, Hà Nội (Có mặt).
+ Chị Trần Thị Mỹ L1, sinh 1995. HKTT: Phố T, thị trấn P, huyện K, Ninh Bình (Vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị L1: Ông Nguyễn Thiếu V – Luật sư thuộc Văn phòng L2 – Đoàn Luật sư T6. Địa chỉ: Số F, ngách E phố H, phường K, quận T, Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T2 là nhân viên kinh doanh bán xe ô tô tại công ty Cổ phần T5 (công ty T5), địa chỉ phường Đ, N, Hà Nội. Khoảng đầu tháng 9/2022, anh Nguyễn Tùng L (Sinh năm 1991, Hộ khẩu thường trú: L, Đ, Hà Nội) có nhu cầu muốn mua xe ô tô nhãn hiệu Toyota Land Cruiser LC300 và qua quen biết với anh Đỗ T1 (Sinh năm: 1987; Hộ khẩu thường trú: Phường T, thành phố N, tỉnh Nam Định – là bạn xã hội quen biết của T2) nên anh L đã nhờ anh T1 tìm mua xe ô tô hộ, anh T1 sau đó đã hỏi và nhờ T2 tìm hiểu báo giá chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Land Cruiser LC300 cho anh L. Nguyễn Văn T2 sau khi tìm hiểu và biết chị Trần Thị Mỹ L1 (SN: 1995 TQ: phố T, thị trấn P, huyện K, Ninh Bình)- là môi giới bán xe ô tô của công ty Toyota An Sương - thành phố T5) và biết công ty T5 An Sương có 01 chiếc xe Toyota Land Cruiser LC300 bán với giá 4.100.000.000 đồng kèm tiền chênh lệch để mua xe ô tô hiếm trên thị trường là 1.550.000.000 đồng, thỏa thuận đặt cọc là 100.000.000 đồng nên T2 đã báo cho anh T1 biết. Anh T1 đã thông báo lại cho anh L1 thì anh L1 đồng ý mua xe ô tô với giá bán và giá chênh lệch trên.
Ngày 11/9/2022 và ngày 12/9/2022, anh L1 đã nhờ chị Lê Thị Kiều C (Sinh năm: 1988; Hộ khẩu thường trú: Ngõ A, T, phường T, Q. Đ, Hà Nội- là bạn anh L1) chuyển số tiền 100.000.000 đồng để đặt cọc xe ô tô cho anh T1, anh T1 sau đó đã chuyển tiền lại cho T2 và T2 đã chuyển cho chị L1 để đặt cọc xe. Sau khi nhận tiền đặt cọc, chị L1 đã báo cho công ty T5 làm hợp đồng mua bán xe ô tô và L1 đã gửi hình ảnh hợp đồng mua bán xe của khách hàng Nguyễn Tùng L cho T2, T2 gửi lại cho anh T1 xem. Chị Mỹ L1 yêu cầu T2 trong ba ngày kể từ ngày phát hành hợp đồng mua bán (12.9 đến 15.9) khách của T2 là anh L1 phải chuyển toàn bộ số tiền chênh lệch 1.550.000.000 đồng thì sẽ gửi hợp đồng mua bán xe bản gốc ra cho anh L1 ký nhưng anh T1 không đồng ý do ngân hàng chưa ra cam kết thanh toán cho vay nên T2 đã giới thiệu để anh T1 về công ty Cổ phần T5 để mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu Toyota Land Cruiser LC300 cho anh L1 (là xe do công ty Cổ phần P (địa chỉ trụ sở chính: khu dịch vụ sân bay G, tổ A, đường dẫn cầu V, phường P, quận L, Hà Nội; đại diện theo pháp luật ông Lê Xuân H1, tổng giám đốc là đại diện theo pháp luật, nhờ công ty T5 bán hộ) và T2 hứa sẽ chuyển 100.000.000 đồng đặt cọc từ A sang công ty T5, anh T1 đồng ý nên ngày 14/9/2022, T2 báo cho anh Lê Văn T3 (SN: 1989, nơi ở H, P, Hà Nội) - là Trưởng phòng Kinh doanh của công ty T5 để cho anh L1 đến xem xe và anh T3 đồng ý. Khoảng 18h ngày 14/09/2022, T2 đưa anh T1 và anh L1 đến xem xe tại hầm để xe của công ty T5. Tại đây, T2 và anh T1, anh L1 đã trao đổi và thống nhất thỏa thuận về việc mua xe ô tô nhãn hiệu Landcruiser LC 300 với giá 4.100.000.000 đồng kèm tiền chênh là 1.620.000.000 đồng và thỏa thuận tiền cọc mua xe bằng giá tiền chênh lệch, khi nào nộp đủ tiền chênh lệch thì sẽ làm hợp đồng mua bán xe và bên công ty sẽ hỗ trợ việc làm thủ tục vay trả góp ngân hàng để mua xe. Sau khi ngân hàng có cam kết cho vay thì khách hàng sẽ đóng tiền đối ứng là 1.100.000.000 đồng mua xe thì công ty sẽ ký hợp đồng mua bán xe ô tô và bàn giao xe cho khách hàng thì anh L1 và anh T1 đồng ý. T2 sau đó báo lại cho anh T3 biết và cung cấp thông tin số tài khoản của công ty T5 cho anh L1 và T1 để đặt cọc tiền mua xe ô tô. Sau đó cùng ngày 14/9/2022, anh L1 đã nhờ bạn là chị Lê Thị Kiều C chuyển khoản 200.000.000 đồng vào tài khoản của công ty T5 và anh T1 đã thông báo cho T2 biết việc này, T2 đã báo lại cho anh T3 biết. Tuy nhiên do tiền đặt cọc xe là tiền nhạy cảm, công ty không muốn nhận qua chuyển khoản nên anh T3 đã báo lại công ty T5 để chuyển khoản trả lại số tiền 200.000.000 đồng đặt cọc xe Landcruiser LC 300 vào tài khoản của chị Lê Thị Kiều C và yêu cầu T2 sau đó sẽ nhận tiền mặt và nộp trực tiếp cho kế toán của công ty nên ngày 16/9/2022, công ty T5 đã chuyển khoản trả lại chị C 200.000.000 đồng.
T2 sau đó giải thích với anh T1 là số tiền đặt cọc xe là tiền chênh lệch sẽ nhạy cảm nên công ty không nhận chuyển khoản, việc đặt cọc mua xe sẽ chuyển vào tài khoản cá nhân của T2 và T2 sẽ có trách nhiệm nộp tiền cho công ty và hoàn thiện các thủ tục mua bán xe thì anh T1 đã thông báo lại cho anh L1 biết, anh L1 đồng ý và ngày 22/9/2022, anh L1 đã nhờ chị C chuyển vào tài khoản của anh T1 số tiền 300.000.000 đồng và anh T1 đã chuyển 300.000.000 đồng vào tài khoản của T2. Cùng ngày 22/9/2022, do khách mua xe (anh L1) chưa đặt đủ tiền chênh (tiền lạc) theo thỏa thuận nên anh T3 nói T2 yêu cầu khách của T2 phải đặt đủ tiền nếu không sẽ bán cho khách khác nên T2 đã liên hệ với anh T1. Anh T1 sau đó đã liên hệ với anh L1 nhưng anh L1 xin để cho đến cuối tháng 9 và sau đó là xin đến giữa tháng 10/2022 mới nộp tiền đặt cọc theo thỏa thuận. Sau khi nhận 300.000.000 đồng từ anh T1 cùng ngày 22/9/2023, T2 đã chuyển khoản cho công ty T5 để thanh toán tiền bảo hiểm và phụ kiện là 18.385.000 đồng, ngày 24/9/2022, T2 tiếp tục chuyển khoản 128.000.000 đồng thanh toán cho hợp đồng xe ô tô số 2209062, ngày 26/9/2022, T2 chuyển khoản 140.000.000 đồng thanh toán tiền xe cho hợp đồng số 2208183, ngoài ra T2 trả nợ tiền lãi cho chị Hà Thị Y (SN: 1984; HKTT: Lam Điền, C, Hà Nội) 3.000.000 đồng và chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 01/10/2022, anh L1 tiếp tục nhờ chị C chuyển khoản cho anh T1 số tiền 475.000.000 đồng để chuyển khoản tiền cọc cho T2. Sau khi nhận tiền đến ngày 03/10/2022, anh T1 đã chuyển khoản cho T2 số tiền 400.000.000 đồng từ tài khoản của anh T1 vào tài khoản số: 0491000096402 tại Ngân hàng V1 của T2 (còn 75.000.000 đồng chưa chuyển). Sau khi nhận tiền từ anh T1, T2 không nộp vào công ty mà ngày 06/10/2022, T2 tiếp tục chuyển khoản số tiền 200.000.000 đồng cho công ty T7 để thanh toán tiền theo hợp đồng xe ô tô số 2209062; ngày 8/10/2022, chuyển khoản 15.000.000 đồng thanh toán tiền hợp đồng xe ô tố số 2209183 và ngày 12/10/2022 chuyển khoản 60.000.000 đồng để thanh toán cho hợp đồng xe ô tô 2208183 và trả nợ tiền vay cho anh Hà Hoàng Tuấn N (SN: 1992; HKTT: TT. P, C, Thanh Hóa), chị Trần Thị Minh T4 (SN: 1972, HKTT: Vĩnh Phúc, B, Hà Nội), chị Hà Thị Y và chi tiêu cá nhân. Tổng số tiền T2 đã chuyển khoản cho công ty T7 để thanh toán theo các hợp đồng xe ô tô khác mà T2 đã chuyển là 561.385.000 đồng còn lại T2 trả nợ và chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 15/10/2022, anh T3 và chị Đặng Thị Vĩnh H (SN 1978, HKTT: số A, ngõ D K, phường N, B, Hà Nội- là Giám đốc kinh doanh của công ty Cổ phần T5) đã nhắn tin cho T2 yêu cầu khách hàng của T2 phải đặt cọc 300.000.000 đồng để giữ xe ô tô Landcruiser LC 300 cho khách vào ngày 17/10/2022 và ngày 20/10/2022, khách phải nộp đủ tiền xe, gồm: tiền chênh 1.620.000.000 đồng và tiền đối ứng 1.100.000.000 đồng, nếu không sẽ bán xe cho khách khác.
Ngày 17/10/2022, do T2 đã chi tiêu gần hết số tiền 700.000.000 đồng đã nhận của anh T1 nên không có đủ số tiền 300.000.000 đồng để đặt cọc xe cho công ty nên T2 đã chuyển khoản số tiền 180.000.000 đồng cho anh T3 để đặt cọc xin giữ xe ô tô Landcruiser LC300 lại cho khách và T2 đã nhắn tin thông báo cho anh T1 biết để yêu cầu khách phải nộp đủ tiền, anh T1 báo lại cho anh L1 nhưng do khó khăn về kinh tế nên anh L1 xin được khất đến cuối tháng 10 mới nộp tiền lấy xe (sau đó anh L1 xin được hoãn đến tháng 02/2023 mới lấy xe). Thái sau đó báo lại với chị H về việc khách hàng chỉ vào thêm được 800.000.000 đồng nên chị H không đồng ý và thông báo hạn cuối là 20/10 nếu khách không nộp đủ tiền thì sẽ bán cho khách khác. Do T2 không nộp đủ 300.000.000 đồng nên ngày 18/10/2022 anh T3 đã chuyển khoản hoàn trả lại 180.000.000 đồng tiền cọc của khách hàng vào tài khoản cá nhân của T2 và ngày 20/10/2022, chị H đã chuyển trả xe ô tô Landcruiser LC 300 (mà T2 đã dẫn anh T1 và anh L1 xem ngày 14/9/2022) cho công ty P để công ty bán xe cho khách hàng khác.
Từ ngày 17/10/2022 đến ngày 20/10/2022 do T3 và H yêu cầu nộp đủ tiền chênh mới bán xe cho khách của T2 nên T2 liên tục thúc giục anh T1 chuyển thêm tiền để đặt cọc mua xe theo thỏa thuận (bao gồm tiền chênh và tiền đối ứng) nên ngày 26/10/2022, anh L1 tiếp tục nhờ chị C chuyển khoản cho anh T1 490.000.000 đồng để đặt cọc mua xe. Sau khi nhận được tiền, đến ngày 28/10/2022, anh T1 đã chuyển khoản số tiền 490.000.000 đồng vào tài khoản số: 0491000096402 của T2 tại Ngân hàng V1. Sau khi nhận được số tiền này, ngày 31/10/2022, T2 đã sử dụng thanh toán chuyển khoản 30.000.000 đồng cho công ty T5 theo hợp đồng mua bán xe ô tô số 2210169, ngày 01/11/2022, T2 tiếp tục chuyển khoản 1.992.700 đồng thanh toán tiền mua phụ kiện cho hợp đồng xe ô tô số 2210169 và tiếp chuyển tiền trả nợ cho anh Hà Hoàng Tuấn N, chị Trần Thị T4, chị Hà Thị Y và chi tiêu cá nhân hết.
Đến khoảng đầu tháng 01/2023, do anh L1 có khó khăn về tài chính nên đã nói với anh T1 muốn xin công ty T5 hoàn lại số tiền 500.000.000 đồng để xử lý công việc cá nhân, khi nào xong việc sẽ hoàn tất việc mua bán xe với công ty sau, anh T1 sau đó đã liên hệ với T2 thì T2 trả lời anh T1 sẽ báo và đề xuất với công ty để đưa ra phương án xử lý và T2 hẹn trước Tết Nguyên đán Quý Mão 2023 khoảng 03 ngày thì sẽ xử lý xong. Đến hẹn, anh T1 hỏi T2 thì T2 trả lời đã trình phương án và đang chờ xếp phê duyệt, đồng thời hẹn anh T1 đến ngày Mùng 6 âm lịch (tức ngày 27/01/2023) sẽ là hạn cuối để trả tiền cho khách hàng.
Đến ngày 27/01/2023, anh T1 hỏi T2 thì T2 hẹn anh T1 đến 14 giờ 30 phút cùng ngày sẽ trả tiền. Đến hẹn, anh T1 thấy T2 vẫn không trả được tiền nên đã liên hệ với công ty của T2 để hỏi rõ sự việc. Sau khi được công ty xác nhận việc T2 chưa chuyển tiền cọc mua xe của anh L1 cho công ty, anh T1 đã hỏi T2 thì T2 đã thừa nhận việc nhận tiền đặt cọc xe của anh T1 nhưng không nộp cho công ty mà đã sử dụng số tiền trên để chi tiêu cá nhân hết và T2 hẹn anh T1 đến ngày 28/01/2023 sẽ gặp để giải quyết sự việc. Đến chiều ngày 28/01/2023, T2 có mặt tại công ty để giải trình liên quan đến sự việc trên với sự có mặt của anh T1, anh L1 và đại diện công ty T5 gồm chị H và anh T3. Tuy nhiên do T2 không đủ khả năng để trả lại tiền cho anh L1 nên anh L1 đã trình báo sự việc đến Công an phường Đ. Sau đó, T2 đã đến Công an phường Đ đầu thú.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại Iphone 11 màu đen, có gắn sim điện thoại (thu giữ của Nguyễn Văn T2); 50.000.000 đồng (thu giữ của chị Trần Thị Mỹ L1) và 01 USB nhãn hiệu Sandisk màu đen chứa video T2 thừa nhận việc đã nhận tiền của anh L1 và chi tiêu cá nhân hết không nộp tiền về công ty đặt xe cho anh L1 và chị C tại trụ sở Công an phường Đ (thu giữ của anh Nguyễn Tùng L).
Cơ quan điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định dữ liệu tại USB nhãn hiệu Sandisk màu đen đã thu giữ trên. Tại Kết luận giám định số 3253/KL-KTHS ngày 01/08/2023 của V2, xác định: “không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong tệp video mẫu cần giám định”.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T2 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Do trong quá trình điều tra, anh Đỗ T1 khai tất cả các giao dịch chuyển tiền cho T2, anh T1 đều chuyển khoản tại nhà anh T1 ở số B ngõ E N, phường G, L, Hà Nội nên ngày 24/8/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận N có công văn gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra- Công an quận L, trao đổi thẩm quyền điều tra đối với vụ án hình sự nêu trên. Ngày 13/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận L đã có văn bản số 3333/CV-CQĐT(ĐTTH) phúc đáp với quan điểm: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận N đã phát hiện, khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo đối với đối tượng có liên quan trong vụ án nên căn cứ Điều 163 Bộ luật tố tụng hình sự và nguyên tắc có lợi cho bị cáo trong tố tụng hình sự, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận N tiếp tục xử lý vụ án theo quy định pháp luật.
Đối với số tiền 700.000.000 đồng do anh Đỗ T1 chuyển khoản cho T2 vào ngày 22/9/2023 và 03/10/2023 để đặt cọc mua xe cho anh Nguyễn Tùng L nhưng T2 đã sử dụng trả nợ và tiêu xài cá nhân hết. Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn T2 không có ý thức chiếm đoạt số tiền này, T2 không có hành vi gian dối khi mua bán xe và không bỏ trốn, Cơ quan điều tra không có tài liệu chứng minh T2 đã sử dụng số tiền này vào mục đích bất hợp pháp nên không đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn T2 có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nên không xử lý.
Quá trình điều tra xác định Nguyễn Văn T2 đã vay tiền của Hà Hoàng Tuấn N, Trần Thị Minh T4 và Hà Thị Y nhưng cơ quan điều tra không đủ căn cứ xác định anh N, chị T4 và chị Y có hành vi cho vay vay lãi nặng trong giao dịch dân sự nên không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 100.000.000VNĐ mà T2 nhận từ anh Đỗ T1 để chuyển cho chị Trần Thị Mỹ L1 để đặt cọc mua xe ô tô cho anh L1. Tại Cơ quan điều tra, chị Mỹ L1 cho biết không có trách nhiệm phải trả lại số tiền đặt cọc 100.000.000 đồng này cho T2 do đây là thỏa thuận giữa T2 và chị Mỹ L1 nhưng chị Mỹ L1 tự nguyện giao nộp lại số tiền 50.000.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả cho T2. Do T2 không có hành vi gian dối chiếm đoạt số tiền 100.000.000 đồng này nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với số tiền 561.385.000 đồng mà T2 nộp về công ty T7 để thanh toán các hợp đồng mua bán xe ô tô khác, Cơ quan điều tra đã liên hệ làm việc đối với chị Đặng Thị Vĩnh H, đại diện theo ủy quyền của công ty T7, T, chị H khai không biết là tiền do T2 chiếm đoạt và đề nghị T2 có trách nhiệm khắc phục trả bị hại.
Đối với anh Lê Văn T3 và chị Đặng Thị Vĩnh H tuy có hành vi chỉ đạo T2 nhận tiền chênh 1.620.000.000 đồng qua tài khoản cá nhân sau đó sẽ nộp tiền về công ty nhưng đều không biết việc T2 đã nhận tiền nhưng không nộp về công ty mà sử dụng trả nợ và chiếm đoạt chi tiêu cá nhân hết nên cơ quan điều tra không xử lý.
Về dân sự: anh Đỗ T1 yêu cầu Nguyễn Văn T2 hoàn trả số tiền 1.290.000.000 đồng cho anh Nguyễn Tùng L.
Lời khai nhận tội của T2 phù hợp với lời khai người bị hại, lời khai người liên quan và phù hợp với tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ vụ án.
Tại bản cáo trạng số 335/CT- VKS ngày 08/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Nam Từ Liêm, bị cáo Nguyễn Văn T2 bị truy tố về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a, khoản 3, Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Văn T2 khai nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn nhận tội và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Về dân sự: bị cáo đồng ý trả lại anh Nguyễn Tùng L tổng số tiền đã nhận từ anh T1.
Bị hại – anh Đỗ T1 đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và buộc bị cáo phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt cho anh Nguyễn Tùng L.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – anh Nguyễn Tùng L: xác nhận đã nhận 561.385.000 đồng từ Công ty CP T5, đã nhận 50.000.000 đồng từ chị Trần Thị Mỹ L1 và đã nhận 20.000.000 đồng từ gia đình bị cáo T2. Anh Nguyễn Tùng L đề nghị bị cáo T2 phải trả cho anh số tiền 608.615.000 đồng;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – chị Trần Thị Mỹ L1 và người bảo vệ quyền và nghĩa vụ của chị L1 là ông Nguyễn Thiếu V có đơn xin xét xử vắng mặt và xác nhận đã tự nguyện trả cho anh Nguyễn Tùng L số tiền 50.000.000 đồng và nộp lại 50.000.000 đồng cho Cơ quan điều tra để khắc phục một phần hậu quả cho bị cáo T2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – Công ty CP T5 có đơn xin xét xử vắng mặt và xác nhận đã tự nguyện trả cho anh Nguyễn Tùng L số tiền 561.385.000 đồng để khắc phục một phần hậu quả cho bị cáo T2.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quan điểm như cáo trạng truy tố và kết luận bị cáo Nguyễn Văn T2 đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, quy định tại điểm a, khoản 3, Điều 174 của Bộ luật hình sự. Sau khi đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét tình tiết giảm nhẹ, đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: điểm a, khoản 3, Điều 174, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS. Đề nghị mức án: 11-12 năm tù giam.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47, 106 BLTTHS, Điều 584, 586, 589, 597 BLDS tuyên xung công quỹ 01 điện thoại thu giữ của Nguyễn Văn T2, tuyên trả cho anh L 50.000.000 đồng đã thu giữ trong quá trình điều tra.
Về dân sự:
+ Yêu cầu Công ty T7 phải tiếp tục bồi thường cho anh L số tiền 31.992.700 đồng từ số tiền 490 triệu đồng T2 chiếm đoạt của anh T1, anh L. Tại phiên tòa, anh Nguyễn Tùng L khai đã nhận thêm 20.000.000 đồng của gia đình T2 bồi thường. Như vậy, Nguyễn Văn T2 còn phải tiếp tục bồi thường cho anh L số tiền 438.007.300 đồng.
+ Đối với số tiền dân sự T2 còn nợ đối với anh T1, anh L: ghi nhận sự thỏa thuận: công ty T7 đã tự nguyện chuyển lại cho anh L số tiền 561.385.000 đồng, chị Trần Thị Mỹ L1 đã tự nguyện chuyển lại cho anh L1 50.000.000 đồng. Tại phiên tòa T2 tự nguyện bồi thường số tiền nợ dân sự còn lại cho anh L1 là 138.615.000 đồng.
Như vậy, bị cáo T2 phải trả lại anh L1 tổng số tiền là: 576.622.300 đồng.
[9] Bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Điểm a, khoản 3, Điều 174; Điểm b, s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
- - Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015;
- - Điều 584, 587, 589 Bộ luật dân sự;
- - Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T2 phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T2 10 (M) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/7/2023.
Về vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 11 gắn 01 sim (Vật chứng nêu trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Nam Từ Liêm theo biên bản giao nhận vật chứng số 38 ngày 10/11/2023).
Về dân sự:
+ Buộc bị cáo Nguyễn Văn T2 phải bồi thường cho anh Nguyễn Tùng L số tiền 438.007.300 đồng và trả số tiền nợ dân sự cho anh L là 138.615.000 đồng. Tổng cộng: 576.622.300 đồng.
+ Buộc Công ty CP T5 phải trả cho anh Nguyễn Tùng L số tiền: 31.992.700 đồng.
+ Anh Nguyễn Tùng L được nhận lại số tiền 50.000.000 đồng do chị Trần Thị Mỹ L1 tự nguyện giao nộp (số tiền trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 18/7/2023).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Về án phí:
+ Bị cáo Nguyễn Văn T2 phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 27.065.000 (Hai mươi bảy triệu, không trăm sáu mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
+ Công ty CP T5 phải chịu 1.599.000 (Một triệu năm trăm chín mươi chín nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo:
+ Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (anh Nguyễn Tùng L) có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (chị Trần Thị Mỹ L1, Công ty CP T5) vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thúy Anh |
Bản án số 369/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về hình sự (lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Số bản án: 369/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Lừa đảo chiếm đoạt tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NAM TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Phạm Văn T bị truy tố về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản"
