|
TAND QUẬN N THÀNH PHỐ H |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 368/2023/HSST
Ngày: 27/12/2023
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn V
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc S và Trần Thị O
- - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Chu Bích T
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận N tham gia phiên tòa: Ông Vũ Lê Trần N – Kiểm sát viên.
Trong ngày 27/12/2023, tại trụ sở TAND quận N, thành phố H mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 380/2023/HSST ngày 01/12/2023, đối với bị cáo:
Trần Đắc Hoàng S, sinh năm 1995; Giới tính: Nam
Nơi ĐKNKTT: Số 13/10/83 Nguyễn Bình, phường Đồng Quốc Bình, quận Ngô Quyền, thành phố H.
Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam
Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Con ông Trần Đắc B và bà Phạm Thị Minh C
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, tạm giữ từ ngày 22/8/2023, hiện tạm giam tại Trại tạm giam số 1 Công an thành phố H; Số giam 4418C2/21 - Có mặt
Người bị hại:
- Anh Lê Phương N, sinh năm 2003 – Vắng mặt SĐT: 0978.682.xxx
- Chị Nguyễn Thị Tình N1, sinh năm 2000 – Vắng mặt.
Nơi ĐKNKTT: Thôn P, V, thành phố T, tỉnh Thái Bình – Vắng mặt.
Chỗ ở: Số A, ngách C đường V, làng M, xã K, H, Hà Nội.
Nơi ĐKNKTT: Thôn Đ, xã H, huyện T, Thanh Hóa.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Tiến Đ, sinh năm 2000
Địa chỉ: 405 V3 tập thể Đại học G, phường N, B, Hà Nội – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Bị cáo bị VKSND quận N, thành phố H truy tố về hành vi phạm tội như sau: Ngày 08/8/2023, Trần Đắc Hoàng S điều khiển chiếc xe mô tô BKS: 17L1-4219 đến khu vực cổng làng M, phường M, quận N,thành phố H, sau đó S để xe tại khu vực cổng làng và đi bộ vào bên trong tìm nơi sơ hở để trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ cùng ngày, S đi bộ đến nhà số E, ngách E đường M, phường M thấy có người mở cổng nên S đi theo vào bên trong và thấy khu vực để xe tầng 1 không có người trông giữ, S thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 36C2 – 082.96 của chị Nguyễn Thị Tình N1 để tại vị trí thuận tiện nên S đã lấy xe dắt ra ngoài tìm nơi phá khóa. S đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy Văn Tùng tại số B ngõ C phố M, phường M thì S vào và nói xe của mình bị mất chìa khóa và nhờ anh T là chủ quán và anh C1 thợ sửa xe thay ổ khóa nhưng anh T và anh C2 nói đã muộn để xe lại sáng ngày hôm sau đến lấy, báo giá thay ổ khóa hết 800.000đ. S đồng ý, để lại xe và đi về. Đến khoảng 12 giờ, ngày 09/8/2023, S đến lấy xe và trả tiền thay ổ khóa.
Sau khi trộm được chiếc xe máy của chị N1, S lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả đăng ký xe mục đích để bán chiếc xe trộm cắp được giá cao. Do trước đó, S có nhu cầu vay tiền online của các công ty tài chính nên đã đặt mua giấy tờ giả trên mạng xã hội Facebook và S đã liên hệ với một tài khoản Facebook (S không nhớ thông tin tài khoản) của một người không quen và được cung cấp bộ giấy tờ gồm: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 thẻ ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Tiến Đ nên S liên hệ với tài khoản facebook “Hoa Bỉ N” (S không biết thông tin gì về người làm giả đăng ký xe) để cung cấp thông tin theo bộ giấy tờ mà S đã mua trước đó, để làm giả giấy đăng ký xe mang tên Nguyễn Tiến Đ với giá 623.000đ (trong đó có 23.000đ tiền phí ship) và phải đưa trước 100.000đ đặt cọc. S sau đó đã chuyển khoản 100.000₫ từ tài khoản số 9904284458 đến số tài khoản 1035930167 mở tại ngân hàng V mang tên Ngô Văn C3 để đặt cọc làm giả giấy tờ. Khoảng 9 giờ ngày 13/8/2023, anh Trần Tuấn A (sinh năm: 1996; HKTT: số G phố N, phường N, TX S, Hà Nội) là nhân viên ship giao hàng cho công ty J có giao 01 đơn hàng quần áo từ xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre cho S. Lúc này, S nói không có nhà và nói anh Tuấn A để hàng ship tại khu vực phòng trọ rồi S nhận sau và chuyển khoản số tiền 523.000đ từ tài khoản số 9904284458 đến tài khoản số 1035794000 của anh Tuấn A tại ngân hàng V. Sau đó, S ra lấy đơn hàng và mở ra thấy bên trong có 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 36007185 cấp ngày 21/3/2022, BKS: 36C2-082.96 mang tên chủ xe là Nguyễn Tiến Đ, sinh năm: 2000; Địa chỉ: thôn I, B, N, Thanh Hóa. Sau khi có giấy đăng ký xe giả trên, S đã đăng bài bán chiếc xe trộm cắp được trên hội nhóm Facebook bán xe cũ tại Hà Nội và bán xe Vision tại Hà Nội nhưng không đăng giấy tờ giả lên mạng. Sau khi S đăng bài bán chiếc xe trên, S tự nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên ngày 14/8/2023, S đã đến Công an Phường M đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, Trần Đắc Hoàng S khai nhận hành vi phạm tội của mình và khai trước khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản ngày 08/08/2023, S còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản vào ngày 31/07/2023, cụ thể: Khoảng 15 giờ 30 ngày 31/7/2023, S đi bộ một mình đến khu vực tổ dân phố số E, phường P, quận N, Hà Nội thì phát hiện nhà số G hẻm H mở nên S đi vào bên trong sân của nhà trọ quan sát thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Sirius BKS:17L1-4219 của anh Lê Phương N không có người trông coi, xe không khóa càng, không khóa cổ nên S dắt chiếc xe ra ngoài khoảng 200m, dùng chìa khóa nhà mở được nguồn điện của xe rồi điều khiển đi về phòng trọ tại số A ngách D đường H, phường P, quận B, Hà Nội cất giấu tại sân của khu trọ.
Sau khi trộm cắp được tài sản, S đăng bài lên hội nhóm mua bán xe không giấy tờ qua Facebook “Minh Hoàng” (bài viết S đã xóa), thì có anh Trần Văn K có nhu cầu mua xe cũ để sử dụng nên đã liên hệ mua xe, S nói nguồn gốc xe của bố S bị mất giấy tờ, không phải xe trộm cắp, nếu có vấn đề gì về xe S sẽ chịu trách nhiệm. Anh K đồng ý và thỏa thuận giá mua bán xe là 2.900.000đ. Khoảng 20h, ngày 12/8/2023, anh K gặp S tại ngách D đường H, phường P, quận B xem và mua xe. Số tiền bán xe S đã chi tiêu cá nhân hết.
Ngày 26/9/2023, anh Trần Văn K biết nguồn gốc chiếc xe mô tô BKS: 17L1-4219, do S trộm cắp được mà có nên đã tự nguyện giao nộp lại chiếc xe trên cho cơ quan điều tra để làm rõ.
Vật chứng thu giữ: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Vision, BKS: 36C2-082.96; 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 thẻ ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 36007185 mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 điện thoại di động Iphone 6s Plus màu hồng; 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A52S màu tím (thu giữ của S); 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc BKS: 17L1-4219 (do anh Trần Văn K giao nộp).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 197 và số 223 ngày 28/8/2023 và 28/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thuộc UBND quận N, kết luận:
- - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Vision, màu trắng đen bạc; BKS: 36C2-082.96, đã qua sử dụng, trị giá tài sản là 30.000.000đ.
- - 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đen bạc mang BKS: 17L1-4219, đã qua sử dụng, trị giá tài sản là 3.000.000đ.
Tại bản kết luận giám định số 6497/KL-KTHS ngày 22/9/2023 của V1, Bộ C5, kết luận:
- - Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ ngày 24/6/2021 là căn cước công dân thật.
- - Giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ ngày 29/7/2020 là giấy phép lái xe thật.
- - Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 36 007185 mang tên chủ xe Nguyễn Tiến Đ ngày 21/3/2022: Mẫu in là mẫu in giả.
- - Không tiến hành giám định hình dấu tròn và chữ ký đứng tên Trịnh Cao C4 do không có mẫu so sánh.
Đối với chiếc xe nhãn hiệu Honda Vision màu trắng đen bạc, BKS: 36C-082.96, quá trình điều tra, xác định xe không nằm trong dữ liệu cơ sở xe vật chứng và chủ sở hữu xe là chị Nguyễn Thị Tình N1 nên ngày 06/9/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng và trao trả chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision màu trắng đen bạc, BKS 36C2-082.96 cho chị N1. Chị N1 đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác về dân sự.
Đối với chiếc xe nhãn hiệu Siurs BKS:17L1-4219, quá trình điều tra xác định xe không nằm trong dữ liệu cơ sở xe vật chứng và là tài sản của bà Hoàng Thị L đã mua và đứng tên đăng ký xe vào năm 2007. Tháng 2/2021, bà L đã cho cháu nội là anh Lê Phương N chiếc xe để sử dụng vào việc đi lại học tập nên ngày 05/10/2023, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc xe cho anh N. Anh N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự.
Đối với hành vi mua bán bộ giấy tờ gồm: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ; 01 thẻ ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Tiến Đ, quá trình điều tra xác định: Trần Đắc Hoàng S đã thỏa thuận và đặt mua mua bộ giấy tờ trên với giá 4.500.000đ của một người không quen biết trên Facebook mục đích để vay tiền online của các công ty tài chính. Ngày 6/8/2023, S gặp người này trên đường Đ, quận N, Hà Nội và chuyển khoản số tiền 4.500.000 từ tài khoản số 9904284458 đến số tài khoản 1032339046 mở tại ngân hàng V mang tên Huynh Kim P để mua bộ giấy tờ. Qua xác minh anh Nguyễn Tiến Đ cho biết các giấy tờ trên anh Đ bị mất vào khoảng tháng 3 năm 2023 tại khu vực đường T, Đ, Hà Nội. Sau khi bị mất giấy tờ, anh Đ đã làm lại Căn cước công dân và khóa thẻ ngân hàng nên không có yêu cầu lấy lại, còn giấy phép lái xe anh Đ đề nghị xin lại.
Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ chủ tài khoản V2 (là tài khoản S chuyển tiền để mua bộ giấy tờ mang tên Nguyễn Tiến Đ) là Huỳnh Kim P1 (sinh năm:1972; HKTT: Đ, M, thành phố L, tỉnh An Giang), kết quả xác minh, xác định khoảng tháng 10/2022 có một người không quen biết trên Facebook (chị P1 không nhớ tài khoản) nhờ chị mở tài khoản ngân hàng và sim nhận mã OTP (0939.775.205) với giá 1.200.000 đồng, chị P1 đồng ý. Sau khi làm xong, chị P1 gửi xe khách theo yêu cầu của người đó (chị không nhớ gửi xe nào) và nhận tiền từ nhân viên xe khách. Do căn cước công dân, giấy phép lái xe và thẻ ngân hàng là thật, cũng như S chưa sử dụng để vay được tiền online nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý. Đối với chị Huỳnh Kim P1 do không biết người mua thẻ ngân hàng sử dụng vào mục đích gì nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với hành vi của Trần Đắc Hoàng S đã thuê làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 36007185 mang tên Nguyễn Tiến Đ Cơ quan điều tra do chưa làm rõ được đối tượng S đã thuê làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe và do ngoài lời khai nhận của S và sao kê tài khoản ngân hàng, Cơ quan điều tra không có tài liệu nào khác nên chưa đủ cơ sở vững chắc để khởi tố, truy tố, xét xử đối với S về hành vi này. Cơ quan điều tra đã xác minh làm rõ chủ tài khoản V3 (là tài khoản S chuyển tiền đặt cọc làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe) là Ngô Văn C3 (sinh năm: 1995; HKTT: KDC T, phường P, thị xã K, tỉnh Hải Dương; địa chỉ nơi ở hiện tại khi đăng ký mở tài khoản: Tổ 1, khu K, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai), kết quả xác minh, xác định C3 không có mặt tại địa phương, hiện C3 làm gì, ở đâu chính quyền địa phương không rõ nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định tách tài liệu liên quan đến đối tượng C3 và tài liệu liên quan đến giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 36007185 mang tên Nguyễn Tiến Đ để làm rõ và xử lý sau.
Đối với anh Trần T1 là nhân viên ship giao hàng cho S, do không biết việc S thuê làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với anh T1.
Đối với anh Trần Văn K, quá trình điều tra xác định khi mua chiếc xe Yamaha Sirius BKS: 17L1-4219 của S, anh K không biết là tài sản do trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Lời khai nhận tội của Trần Đắc Hoàng S phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp lời khai người liên quan, phù hợp với vật chứng đã thu giữ và tài liệu điều tra khác.
Tại bản cáo trạng số 414/CT-VKSNTL ngày 30/11/2023 của VKSND quận N, thành phố H đã truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 BLHS.
Kết thúc phần tranh tụng; Tại phần tranh luận, đại diện VKS đọc bản luận tội đối với bị cáo. Nội dung bản luận tội đã phân tích nguyên nhân, động cơ, mục đích phạm tội của bị cáo; Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng đối với bị cáo và khẳng định cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; Đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173 BLHS, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, 47 BLHS; Điều 106 BLTTDS. Đề nghị xử phạt bị cáo từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng. Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét. Về xử lý vật chứng: Tịch thu 02 điện thoại di động, buộc bị cáo nộp lại 2.900.000đ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước, trả lại anh Đ 01 giấy phép lái xe, tịch thu tiêu hủy 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Tiến Đ, 01 thẻ ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Tiến Đ.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo đúng như nội dung bản cáo trạng số 414 ngày 30/11/2023 của VKSND quận N đã truy tố bị cáo. Bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố và lời luận tội của đại diện VKS đối với bị cáo tại phiên tòa là đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của đại diện VKS. Tại lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại đã được triệu tập hợp nhưng vắng mặt. Trong giai đoạn điều tra những người bị hại đã có lời khai thể hiện: Về trách nhiệm dân sự không yêu cầu bị cáo phải bồi thường. Về hình phạt đề nghị xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Căn cứ vào chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo, HĐXX nhận định: Trong các ngày 31/7/2023 và ngày 08/8/2023 Trần Đắc Hoàng S đã thực hiện hai vụ trộm cắp trên địa bàn quận N, thành phố H, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 31/7/2023, tại số G hẻm H, tổ dân phố số E, phường P, quận N, thành phố H, Trần Đắc Hoàng S đã có hành vi trộm cắp chiếc xe máy Yamaha Sirius BKS: 17L1-4219 trị giá 3.000.000₫ của anh Lê Phương N.
- Vụ thứ hai: Khoảng 19h ngày 8/8/2023, tại nhà số E, ngách E đường M, phường M, quận N, TP Hà Nội, Trần Đắc Hoàng S đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision BKS: 36C2 – 082.96 trị giá 30.000.000đ của chị Nguyễn Thị Tính N2.
Tổng trị giá tài sản S đã trộm cắp 02 vụ là 33.000.000đ.
Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.
Xét cáo trạng truy tố và lời trình bày luận tội của đại diện VKS tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật nên được chấp nhận.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự trị an, gây hoang mang lo lắng nơi xảy ra tội phạm.
Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Tính đến ngày phạm tội, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng nhiều lần phạm tội. Bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
Về tình tiết giảm nhẹ: Sau khi phạm tội, bị cáo ra đầu thú, tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm khai báo về hành vi phạm tội trước đó chưa được phát hiện. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã ăn năn hối cải, thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình, tự nguyện giao chiếc xe trộm cắp được cho Cơ quan điều tra để xử lý trả cho người bị hại nhằm khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra. Người bị hại đã nhận lại tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. HĐXX áp dụng để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Từ phân tích và nhận định trên, xét cần xử phạt bị cáo một mức án tương xứng với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đã gây ra. Không cần bắt bị cáo phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phươngcũng đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung đối với xã hội.
Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu 01 điện thoại di động, buộc bị cáo nộp lại 2.900.000₫ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước, trả lại anh Đ 01 giấy phép lái xe, tịch thu tiêu hủy 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Tiến Đ.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Trần Đắc Hoàng S phạm tội “Trộm cắp tài sản”;
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, 47 BLHS; Điều 106, 136, 299, 328 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt: Trần Đắc Hoàng S 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 16 tháng tính từ ngày tuyên án. Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Trần Đắc Hoàng S đang bị tạm giam, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác
Giao bị cáo cho UBND phường phường Đ, quận N, Hải Phòng nơi bị cáo cư trú để giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách nếu bị cáo nào cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định của BLHS.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Luật Thi hành án hình sự.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 02 điện thoại di động, 01 cái hiệu Iphone 6s Plus màu hồng, 01 chiếc hiệu Samsung Galaxy A52S màu tím đã qua sử dụng. Buộc bị cáo nộp lại 2.900.000đ tiền do phạm tội mà có sung công quỹ Nhà nước, trả lại anh Đ 01 giấy phép lái xe số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ, tịch thu tiêu hủy 01 căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Tiến Đ, 01 thẻ ngân hàng B1 mang tên Nguyễn Tiến Đ. (Đặc điểm vật chứng đúng như biên bản giao nhận vật chứng số 81 ngày 05/12/2023 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự quận N, thành phố H).
Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ tiền án phí HSST.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết.
|
Nơi nhân:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn V |
Bản án số 368/2023/HSST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 368/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN N THÀNH PHỐ H
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Đắc Hoàng Sơn phạm tội "Trộm cắp tài sản"
