|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK Bản án số: 368/2024/HS-ST Ngày 27 - 11 - 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Mai.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạn và ông Trần Văn Nghị
Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Diễm L - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 360/2024/HSST, ngày 07 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 364/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Quốc P; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 01/3/1995; tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: 8 Y, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Quốc C; Con bà Hồ Thị Thu H; Bị cáo chưa có vợ con;
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố B từ ngày 12/9/2024 cho đến nay - Có mặt.
2. Họ và tên: Trần Anh T; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 26/12/1982; tại tỉnh Đắk Lắk.
Nơi đăng ký thường trú và nơi ở hiện tại: Hẻm D N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Trần Anh L1; Con bà Bùi Thị S; Có vợ là Mai Thị Hải L2 (đã li hôn); bị cáo chưa có con.
Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Ngày 20/12/2011, bị TAND huyện Buôn Đôn, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 09 tháng tù giam về tội “Vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng”, theo bản án số 38/2011/HSST. Ngày 21/6/2012 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù, đã được xóa án tích.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, giam tại nhà tạm giữ công an thành phố B từ ngày 12/9/2024 cho đến nay - Có mặt.
3. Họ và tên: Đinh Văn T1; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 18/3/1997; tại tỉnh Ninh Thuận.
Nơi đăng ký thường trú: khu phố G, phường V, thành phố P-T, tỉnh Ninh Thuận.
Nơi ở hiện tại: Hẻm D N, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: không; Con ông Đinh Văn L3 và bà Nguyễn Thị C1; Bị cáo có vợ là Lê Thị Thanh T2; có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ công an thành phố B từ ngày 12/9/2024 cho đến nay - Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Đinh Văn L3, sinh năm 1973
- Địa chỉ: Khu phố G, phường V, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.(Có mặt)
- + Bà Bùi Thị S, sinh năm 1961
- Địa chỉ: Tổ dân phố F, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. .(Có mặt)
*Người chứng kiến:
- + Ông Nguyễn Văn Ú, sinh năm 1982
- Địa chỉ: Tổ dân phố D, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
- + Ông Nguyễn Hồng D, sinh năm 1997
- Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc P, Trần Anh T và Đinh Văn T1 là các đối tượng sử dụng ma túy loại Methamphetamine. Tối 11/9/2024, T1 mượn điện thoại di động của T rồi gắn sim số 0846435363 vào sử dụng, T1 liên hệ đến số điện thoại 0901.930.xxx của P và rủ P đến nhà T ở địa chỉ hẻm D N, tổ dân phố F, phường E, TP ., để cùng nhau góp tiền mua ma túy về sử dụng thì P đồng ý. Khi P đến nhà T, T1 góp số tiền 150.000 đồng, T nói không có tiền nên không góp, P bỏ thêm số tiền 850.000 đồng rồi điều khiển xe mô tô biển số 76X6-6961 đi đến khu vực nghĩa trang C3 trên đường P, phường T, TP ., mua ma túy của một người nam giới (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) với số tiền 1.000.000 đồng, sau đó đem về nhà T; P lén chia gói ma túy mua được thành 02 gói, một gói cất giấu riêng trên người, một gói đưa cho T1. Tại phòng ngủ trong nhà T, T chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy đá, T1 bỏ ma túy vào dụng cụ để cả nhóm cùng nhau sử dụng, còn vỏ gói nylon chứa ma túy, P cất giấu trong gói thuốc lá, để trên mặt nạ xe mô tô biển số 76X6-6961 của P đang dựng trong sân nhà T.
Đến khoảng 01 giờ ngày 12/9/2024, có một người nam giới tên Đ ở thôn H, xã C, TP (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) sử dụng số điện thoại 0941.479.xxx gọi đến số điện thoại 0901.930.xxx của P, nhờ P mua ma túy đá với số tiền 1.000.000 đồng cho Lương Văn Đ1 và Bùi Xuân T3 và Đ đưa số điện thoại của P cho Đ1 để liên hệ. Lúc này, P có sẵn 01 gói ma túy đá nên nảy sinh ý định bán
gói ma túy đá cho Đ1 và T3 lấy số tiền 1.000.000 đồng. Đến khoảng 2 giờ cùng ngày 12/9/2024, Đ1 sử dụng số điện thoại 0869.964.xxx liên hệ đến số điện thoại của P, thỏa thuận giao ma túy đá cùng bộ dụng cụ sử dụng ma túy đến địa chỉ B N, phường Ẹ, TP .. P xin T bộ dụng cụ mà cả nhóm vừa sử dụng ma túy rồi rủ T1 đi cùng nhưng không nói cho T1 biết đi giao ma túy. T1 sử dụng xe mô tô biển số 85R5-7098 chở P đến đầu hẻm D N, tổ dân phố F, phường E, TP . thì bị công an phường E phát hiện, bắt quả tang, tạm giữ vật chứng của vụ án. Tiến hành khám xét nơi ở của T, cơ quan điều tra tiếp tục tạm giữ vật chứng khác của vụ án theo quy định của pháp luật.
Quá trình điều tra, các bị cáo Nguyễn Quốc P, Trần Anh T, Đinh Văn T1 khai nhận: Vào ngày 08/9/2024, P mua ma túy đá đến nhà T để T1, P và T cùng nhau sử dụng ma túy.
Đồ vật, tài liệu bị tạm giữ khi bắt người phạm tội quả tang:
- + 01 gói nylon đượ hàn kín, bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng, được niêm phong trong một phong bì thư có các chữ ký ghi tên Vũ M, Nguyễn Minh T4, Nguyễn Quốc P, Đinh Văn T1, Nguyễn Hồng D, Nguyễn Văn Ú và đóng dấu tròn màu đỏ của Công an phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (ký hiệu M1)
- + 01 ống thủy tinh một đầu dạng phễu bám dính chất màu nâu, 02 đoạn ống nhựa màu nâu, 01 đoạn ống nhựa màu đen gắn trên 01 nắp nhựa màu trắng, được niêm phong trong bì thư có các chữ ký ghi tên Vũ M, Nguyễn Minh T4, Nguyễn Quốc P, Đinh Văn T1, Nguyễn Hồng D, Nguyễn Văn Ú và đóng dấu tròn màu đỏ của Công an phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (ký hiệu M2)
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A12, số Imei 867178043669890, gắn sim số 0901930503, điện thoại đã qua sử dụng.
- + 01 xe mô tô biển số 85R5-7098.
- + 01 cân tiểu ly
- Khi khám xét nơi ở của bị cáo Trần Anh T:
- + 01 gói nylon chứa 01 đoạn ống hút màu xanh, trong gói nylon bám dính chất màu trắng, được niêm phong trong bì thư có các chữ ký ghi tên Vũ M, Nguyễn Minh T4, Nguyễn Quốc P, Nguyễn Hồng D, Nguyễn Văn Ú và đóng dấu tròn màu đỏ của Công an phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk (ký hiệu M3)
- + 01 xe mô tô biển số 76X6-6961;
Kết quả xét nghiệm ma túy đối với Nguyễn Quốc P, Đinh Văn T1 và Trần Anh T là dương tính đối với ma túy đá. Bùi Xuân T3, Lương Văn Đ1 là âm tính đối với ma túy.
Tại bản kết luận giám định chất ma túy số 1500/KL-KTHS ngày 19/9/2024 của phòng K công an tỉnh Đ kết luận:
- + Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong gói niêm phong (ký hiệu M1) gửi giám định có khối lượng 0,3526 gam, là ma túy loại Methamphetamine.
- + Chất màu nâu bám dính bên trong ống thủy tinh được niêm phong (ký hiệu M2) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng chất bám dính ít nên không xác định được khối lượng.
- + Chất rắn màu trắng bám dính bên trong 01 gói nylon được niêm phong (ký hiệu M3) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine. Vì lượng chất bám dính ít nên không xác định được khối lượng.
Tại bản cáo trạng số: 367/CT-VKS, ngày 06 tháng 11 năm 2024 của Viện
kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Trần Anh T và Nguyễn Quốc P, tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự; Bị cáo Đinh Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Quốc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà, các bị cáo khai nhận: Ngoài lần phạm tội ngày 11/9/2024 thì vào ngày 08/9/2024, bị cáo P mua ma túy đá đến nhà bị cáo T và bị cáo T chuẩn bị công cụ, phương tiện sử dụng ma túy để 3 bị cáo cùng nhau sử dụng ma túy.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- · Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P mức án 08 năm đến 08 năm 06 tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P mức án 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù.
- Áp dụng Điều 55 tổng hợp hình phạt chung hai tội.
- - Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 255; điểm r, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Trần Anh T mức án 07 năm 09 tháng đến 08 năm 03 tháng.
- -Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 mức án 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.
Xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định trong bì thư ký hiệu M1, có khối lượng 0,3196 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Quốc P (M1) - BMT"; Toàn bộ bao gói, vật dụng đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong bì thư ký hiệu M2 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), được niêm phong trong một bì thư ghi “bao gói, vật dụng ban đầu vụ Nguyễn Quốc P (M2) – BMT"; Toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong bì thư ký hiệu M3 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), được niêm phong trong một bì thư ghi “bao gói ban đầu vụ Nguyễn Quốc P (M3) – BMT"; Đều có số 1500/KL-KTHS và có các chữ ký ghi tên Vũ M, Nguyễn Bá H1, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ và 01 cân tiểu ly của bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với: 01 điện thoại di động hiệu OPPO A12, số Imei 867178043669890, gắn sim số 0901930503; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei 355763070876481, gắn sim số 0846435363, là tài sản của các bị cáo Trần Anh T, Nguyễn Quốc P sử dụng vào việc phạm tội.
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, đồ vật, tài liệu: Trả lại xe mô tô biển số 85R5-7089 cho ông Đinh Văn L3 (bố đẻ bị cáo T1), là chủ sở hữu hợp pháp vàTrả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0869.964.xxx, số Imei 352910114667433, là tài sản hợp pháp của Lương Văn Đ1, không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với quan điểm của Viện kiểm sát và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1].Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Cơ quan truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2].Về hành vi phạm tội của các bị cáo xét thấy:
Vào ngày 11/9/2024, bị cáo Nguyễn Quốc P góp 850.000đồng, bị cáo Đinh Văn T1 góp 150.000đồng để bị cáo P mua ma túy loại Methamphetamine, đem về nhà bị cáo Trần Anh T ở hẻm D N, tổ dân phố F, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Tại đây bị cáo P lén chia gói ma túy thành 02 gói, một gói cất giấu riêng trên người, một gói đưa cho bị cáo T1 để sử dụng; Bị cáo T chuẩn bị dụng cụ sử dụng ma túy đá, bị cáo T1 bỏ ma túy vào dụng cụ để cả nhóm cùng nhau sử dụng tại nhà bị cáo T. Vào sáng 12/9/2024, bị cáo Nguyễn Quốc P cất giấu 0,3526 gam ma túy loại Methamphetamine để bán cho Lương Văn Đ1 với số tiền 1.000.000 đồng thì bị lực lượng công an phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài ra, trong quá trình điều tra các bị cáo còn khai: Vào ngày 08/9/2024, bị cáo P mua ma túy đá đến nhà bị cáo T và bị cáo T chuẩn bị công cụ, phương tiện sử dụng ma túy để 3 bị cáo cùng nhau sử dụng ma túy .
Như vậy Hành vi của bị cáo Trần Anh T, đã phạm vào tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đinh Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Nguyễn Quốc P phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự và phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Điều 251 Bộ luật hình sự quy định:
1.“Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Điều 255 Bộ luật hình sự quy định:
1.“ Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.
a) Phạm tội 02 lần trở lên;
b) Đối với 02 người trở lên.”
Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy. Đồng thời, hành vi của các bị cáo còn là một trong những nguyên nhân gây nên các căn bệnh xã hội, các loại tội phạm khác và gây ảnh hưởng đến trật tự trị an xã hội. Mặc dù các bị cáo nhận thức được mọi hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma
túy đều bị pháp luật nghiêm trị. Song xuất phát từ ý thức coi thường pháp luật, để thỏa mãn cơn nghiện nên các bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần thiết phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc thì mới đảm bảo phát huy tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung trong xã hội.
[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra các bị cáo P, T và T1 thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo P và bị cáo T tự khai ra lần phạm tội vào ngày 08/9/2024, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo Trần Anh T có bố đẻ là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân, huy chương kháng chiến, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4]. Phân hóa vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội: Trong vụ án này, các bị cáo cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội, tuy nhiên, về vai trò, tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo không giống nhau, cần phân hóa để áp dụng mức hình phạt phù hợp, cụ thể:
Đối với bị cáo Nguyễn Quốc P là người đi mua ma túy, cung cấp ma túy cho các bị cáo sử dụng, ngoài ra còn cất giấu 0,3526 gam ma túy loại Methamphetamine để bán nên hình phạt cao hơn các bị cáo P, T phù hợp.
Đối với bị cáo T có vai trò, cung cấp địa điểm và dụng cụ để các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo P và cao hơn bị cáo T1 là phù hợp.
Đối với bị cáo T1 có vai trò, góp tiền mua ma túy để cung cấp ma tuý cho các bị cáo tổ chức sử dụng trái phép ma túy nên mức hình phạt thấp hơn bị cáo P và T là phù hợp.
Với tính chất hành vi phạm tội và nhân thân của các bị cáo như đã nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải có mức hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, sống biết tôn trọng pháp luật, đồng thời răn đe, phòng ngừa chung trong đấu tranh phòng, chống tội phạm.
[5]. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[5.1]. Về Xử lý vật chứng:
- Đối với Mẫu vật còn lại sau giám định trong bì thư ký hiệu M1, có khối lượng 0,3196 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Quốc P (M1)-BMT"; Toàn bộ bao gói, vật dụng đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong bì thư ký hiệu M2 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), được niêm phong trong một bì thư ghi “bao gói, vật dụng ban đầu vụ Nguyễn Quốc P (M2) - BMT"; Toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong bì thư ký hiệu M3 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), được niêm phong trong một bì thư ghi “bao gói ban đầu vụ Nguyễn Quốc P (M3) – BMT" đều có số
1500/KL-KTHS và có các chữ ký ghi tên Vũ M, Nguyễn Bá H1, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ là vật chứng của vụ án và 01 cân tiểu ly của bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu OPPO A12, số Imei 867178043669890, gắn sim số 0901930503 của bị cáo Nguyễn Quốc P; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei 355763070876481, gắn sim số 0846435363 của bị cáo Trần Anh T, đây là các tài sản của các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 85R5-7089, quá trình điều tra xác định: Xe mô tô là của cho ông Đinh Văn L3 (bố đẻ bị cáo T1), là chủ sở hữu hợp pháp, việc bị cáo T1 mượn xe mô tô sử dụng vào việc phạm tội ông L3 không biết, không liên quan nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe mô tô trên cho ông Đinh Văn L3 nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0869.964.xxx, số Imei 352910114667433, là tài sản hợp pháp của anh Lương Văn Đ1, không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại cho anh Lương Văn Đ1 nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 76X6-6961, quá trình điều tra xác định do ông Đặng Hồng T5, trú tại X, N, T, Quảng Ngãi (nay là X, N, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi), đứng tên trong giấy chứng nhận đăng ký xe. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã Ủy thác điều tra đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Q nhưng đến nay chưa nhận được văn bản trả lời. Bị cáo P khai nhận mua lại xe mô tô nói trên của người chưa xác định được nhân thân, lai lịch để sử dụng. Quá trình điều tra, chưa xác định được nguồn gốc xe mô tô nêu trên nên cơ quan điều tra tách vật chứng này ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh, xử lý sau là phù hợp.
[6]. Về đối tượng và hành vi khác:
- Đối với nguồn gốc ma túy trong vụ án, bị cáo P khai nhận mua của người nam giới ở khu vực nghĩa trang cũ trên đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, rồi sau đó thông qua đối tượng nam giới tên thường gọi là Đ sử dụng số điện thoại 0941.479.xxx để bán ma túy cho Lương Văn Đ1 và Bùi Xuân T3. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành xác minh, đồng thời có công văn gửi nhà mạng viễn thông nhưng chưa nhận được công văn trả lời. Do chưa làm rõ được nhân thân, lai lịch người bán ma túy và người nam giới tên Đ nêu trên nên Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của những người trên ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
- Đối với anh Lương Văn Đ1 và anh Bùi Xuân T3 có hành vi thỏa thuận mua ma túy nhưng chưa mua được ma túy, hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với Đ1 và T3 là phù hợp.
- Đối với bà Bùi Thị S và ông Đào Duy C2, là những người có liên quan đến nhà nơi vụ án diễn ra. Ông Đinh Văn L3 người có liên quan đến xe mô tô bị cáo T5 sử dụng vào việc phạm tội. Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định ông L3, bà S và ông C2 không phạm tội nên không đề cập xử lý trách nhiệm hình sự.
[7]. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Điều 255 Bộ Luật Hình sự.
1. Tuyên bố: Các bị cáo Trần Anh T, Nguyễn Quốc P và Đinh Văn T1 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ vào Điều 251 Bộ Luật Hình sự.
2. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc P phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy"
- Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P mức án 08(tám) năm 06(sáu) tháng tù.
- Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc P mức án 02(hai) năm 06(sáu) tháng tù.
- Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự: Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo P phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 11 (mười một) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2024.
- Áp dụng điểm a,b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1,2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Anh T mức án 08(tám) năm 03(ba) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2024.
- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Đinh Văn T1 mức án 07(bảy) năm 09 (chín) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/9/2024.
3. Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
-Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định trong bì thư ký hiệu M1, có khối lượng 0,3196 gam và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu được niêm phong trong một phong bì ghi “Mẫu vật còn lại sau giám định vụ Nguyễn Quốc P (M1)-BMT";Toàn bộ bao gói, vật dụng đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong bì thư ký hiệu M2 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), được niêm phong trong một bì thư ghi “bao gói, vật dụng ban đầu vụ Nguyễn Quốc P (M2) – BMT" và Toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu trong bì thư ký hiệu M3 (mẫu vật đã sử dụng hết trong quá trình giám định), được niêm phong trong một bì thư ghi “bao gói ban đầu vụ Nguyễn Quốc P (M3) – BMT" đều có số 1500/KL-KTHS và có các chữ ký ghi tên Vũ M, Nguyễn Bá H1, đóng dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh Đ; và 01 cân tiểu ly của bị cáo P sử dụng vào việc phạm tội.
-Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu OPPO A12, số Imei 867178043669890, gắn sim số 0901930503 của bị cáo Nguyễn Quốc P; 01 điện
thoại di động nhãn hiệu Iphone, số Imei 355763070876481,gắn sim số 0846435363 của bị cáo Trần Anh T sử dụng vào việc phạm tội.
(Đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/11/2024 giữa Công an T với Chi cục Thi hành án dân sự Tp.Buôn Ma T6. Hiện vật chứng đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự Tp.Buôn Ma T6.)
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng và đã Trả lại xe mô tô biển số 85R5-7089 cho ông Đinh Văn L3 (bố đẻ bị cáo T1), là chủ sở hữu hợp pháp và Trả lại 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, gắn sim số 0869.964.xxx, số I 352910114667433 cho anh Lương Văn Đ1, không sử dụng thực hiện hành vi phạm tội.
- Chấp nhận cơ quan điều tra tách ra khỏi hồ sơ vụ án để tiếp tục xác minh, xử lý sau đối với xe mô tô biển số 76X6-6961do bị cáo P sử dụng phạm tội
4. Về đối tượng và hành vi khác:
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra tách hành vi của người nam giới ở khu vực nghĩa trang cũ trên đường P, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, đối tượng nam giới tên thường gọi là Đ sử dụng số điện thoại 0941.479.xxx để bán ma túy cho Lương Văn Đ1 và Bùi Xuân T3 ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.
- Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Lương Văn Đ1, anh Bùi Xuân T3, bà Bùi Thị S, ông Đào Duy C2 và ông Đinh Văn L3 .
5. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Trần Anh T, Nguyễn Quốc P và Đinh Văn T1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Thị Mai |
Bản án số 368/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự sơ thẩm
- Số bản án: 368/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Các bị cáo Trần Anh Thi, Nguyễn Quốc Phương và Đinh Văn Thắng phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
