Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 368/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 11-9-2024

V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Quỳnh.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồ Cảnh
Ông Phan Hải Thanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Xuân - Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 327/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 309/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị N, sinh năm 1995;

Địa chỉ cư trú: Thôn B (nay là thôn H), xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1993;

Địa chỉ cư trú trước xuất cảnh: Thôn B (nay là thôn H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An;

Hiện đang cư trú tại: Cộng hòa liên bang Đ; vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản trình bày ý kiến, giấy ủy quyền, đơn xin xét xử vắng mặt, nguyên đơn chị Lê Thị N trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn S có đăng ký kết hôn vào ngày 24 tháng 6 năm 2014, theo giấy chứng nhận kết hôn số: 93/2014 tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đến tháng 10/2023, anh S đi xuất khẩu lao động sang nước Đức. Sau khi anh S đi nước ngoài một thời gian thì vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hòa hợp trong quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Hiện tại, chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Văn S có 04 con chung là Nguyễn Tấn D, sinh ngày 15/02/2015; Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/8/2016; Nguyễn Quang K, sinh ngày 17/01/2020 và Nguyễn Thúy N1, sinh ngày 05/10/2022. Hiện các con đang ở với chị và được chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Nếu ly hôn, chị có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con đến lúc trưởng thành và chị không yêu anh S phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Chị Lê Thị N hiện đang cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nhưng do bận công việc nên chị ủy quyền cho anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nộp đơn ly hôn, tài liệu và nhận các văn bản của Tòa án. Đồng thời, chị có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn anh Nguyễn Văn S, hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng qua thân nhân của anh Nguyễn Văn S là anh Nguyễn Văn T1 (anh trai của anh S) đến lần thứ hai mà thân nhân của anh S cũng không cung cấp địa chỉ của anh S ở nước ngoài cho Tòa án biết. Đồng thời cho đến nay, anh S cũng không có văn bản trình bày ý kiến gửi cho Tòa án và vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ và xét xử vụ án vắng mặt các đương sự bảo đảm tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật. Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án anh Nguyễn Văn T1 (anh trai của anh S) trình bày: Anh Nguyễn Văn S là em ruột của anh, cha mẹ anh hiện đã mất. Anh S và chị N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình chung sống, anh S và chị N có 04 con chung là Nguyễn Tấn D, sinh ngày 15/02/2015; Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/8/2016; Nguyễn Quang K, sinh ngày 17/01/2020 và Nguyễn Thúy N1, sinh ngày 05/10/2022. Hiện nay, anh S đang lao động ở nước ngoài, thường xuyên liên lạc với anh qua điện thoại. Tuy nhiên, do anh S không cung cấp địa chỉ cụ thể cho anh nên anh không thể cung cấp địa chỉ của anh S ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, anh đã thông tin cho anh S biết việc chị N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh S cũng đồng ý ly hôn nhưng không có văn bản gửi cho Tòa án. Việc anh Nguyễn Văn S vắng mặt được xác định là cố tình giấu địa chỉ, từ chối khai báo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của chị Lê Thị N, cho chị N được ly hôn với anh Nguyễn Văn S. Về con chung: Đề nghị giao cho chị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Nguyễn Tấn D, sinh ngày 15/02/2015; Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/8/2016; Nguyễn Quang K, sinh ngày 17/01/2020 và Nguyễn Thúy N1, sinh ngày 05/10/2022 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành. Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị N không yêu cầu nên đề nghị không xem xét, giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Chị N không yêu cầu và anh S chưa có ý kiến nên đề nghị không xem xét, giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Vụ án ly hôn không có tranh chấp con chung, tài sản chung nhưng Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ nên thuộc trường hợp Viện kiểm sát phải tham gia phiên tòa theo quy định tại khoản 2 Điều 21 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Lê Thị N có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn S hiện đang cư trú ở nước ngoài; trước xuất cảnh, anh S có địa chỉ cư trú tại tỉnh Nghệ An, Việt Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại Điều 37, Điều 40, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 122, Điều 123, Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình.

Về thủ tục hòa giải: Căn cứ vào khoản 1 Điều 207 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án không tiến hành hòa giải được vì bị đơn anh Nguyễn Văn S không thể tham gia hòa giải được do vắng mặt tại nơi cư trú và hiện đang ở nước ngoài, Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng anh S vẫn cố tình vắng mặt.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Lê Thị N đã ủy quyền cho anh Nguyễn Xuân H, sinh năm 1988; địa chỉ cư trú: Xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nộp đơn khởi kiện ly hôn, đơn yêu cầu thu thập chứng cứ, bản trình bày ý kiến, giấy ủy quyền, tài liệu cho Tòa án và chị có đơn xin xét xử vắng mặt. Chị N phải chịu hoàn toàn trách nhiệm trước pháp luật về tài liệu và chứng cứ mà chị đã ủy quyền nộp cho Tòa án. Bị đơn anh Nguyễn Văn S hiện đang ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã cấp, tống đạt, thông báo, niêm yết đầy đủ, hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh S thông qua người thân là anh Nguyễn Văn T1 (anh trai của anh S) gồm các văn bản: Thông báo thụ lý vụ án; Công văn “Yêu cầu cung cấp địa chỉ của anh Nguyễn Văn S”; Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và các văn bản tố tụng khác. Đồng thời, yêu cầu anh S trình bày ý kiến về việc chị N có đơn ly hôn. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai mà thân nhân của anh S cũng không cung cấp địa chỉ của anh S ở nước ngoài cho Tòa án biết. Về phía anh Nguyễn Văn T1 (anh trai của anh S) có đơn trình bày: Anh Nguyễn Văn S là em ruột của anh, cha mẹ anh hiện đã mất. Anh S và chị N có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Trong quá trình chung sống, anh S và chị N có 04 con chung là Nguyễn Tấn D, sinh ngày 15/02/2015; Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/8/2016; Nguyễn Quang K, sinh ngày 17/01/2020 và Nguyễn Thúy N1, sinh ngày 05/10/2022. Hiện nay, anh S đang lao động ở nước ngoài, thường xuyên liên lạc với anh qua điện thoại. Tuy nhiên, do anh S không cung cấp địa chỉ cụ thể cho anh nên anh không thể cung cấp địa chỉ của anh S ở nước ngoài cho Tòa án được. Sau khi nhận được các văn bản của Tòa án, anh đã thông tin cho anh S biết việc chị N nộp đơn ly hôn tại Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thì anh S cũng đồng ý ly hôn. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã mở phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất vào ngày 23/8/2024 và lần thứ hai vào ngày 11/9/2024 nhưng cả hai lần anh S đều vắng mặt không có lý do và không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án. Do đó, việc anh Nguyễn Văn S vắng mặt thuộc trường hợp cố tình giấu địa chỉ; từ chối khai báo theo quy định tại Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn về việc giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài không rõ địa chỉ. Để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự, căn cứ vào khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 24 tháng 6 năm 2014, là hôn nhân hợp pháp. Theo chị N trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận, hạnh phúc tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Đến tháng 10/2023, anh S đi xuất khẩu lao động sang nước Đức. Sau khi anh S đi nước ngoài một thời gian thì vợ chồng thường xuyên cãi vã, không hòa hợp trong quan điểm sống. Mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng nên vợ chồng không còn liên lạc với nhau. Theo Công văn số 10511/QLXNC-P3 ngày 17/5/2024 của Cục Q, Bộ C cung cấp: Anh Nguyễn Văn S đã xuất cảnh ngày 25/10/2023 qua cửa khẩu N2, hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Hiện tại, chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị nộp đơn yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An giải quyết cho chị được ly hôn với anh S. Xét thấy, hôn nhân giữa chị Lê Thị N và anh Nguyễn Văn S đã lâm vào tình trạng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên chấp nhận.

[3]. Về con chung: Theo chị Lê Thị N trình bày, chị và anh S có 04 con chung. Nếu ly hôn, chị N có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con đến lúc trưởng thành. Nguyện vọng của chị N phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con, phù hợp với nguyện vọng của con và đúng quy định của pháp luật; vì hiện nay anh S đang ở nước ngoài và cố tình dấu địa chỉ còn chị N đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng các con. Căn cứ vào các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; chấp nhận yêu cầu của chị N. Giao cho chị Lê Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Nguyễn Tấn D, sinh ngày 15/02/2015; Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/8/2016; Nguyễn Quang K, sinh ngày 17/01/2020 và Nguyễn Thúy N1, sinh ngày 05/10/2022 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị Lê Thị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Chị Lê Thị N không yêu cầu và anh Nguyễn Văn S chưa có ý kiến nên Tòa án không giải quyết trong vụ án này. Dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.

[5]. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 122; Điều 123; Điều 127 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 37; Điều 40; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 207; khoản 1, khoản 3 Điều 228; khoản 1 Điều 273; Điều 469; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Lê Thị N.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị N được ly hôn anh Nguyễn Văn S.
  2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị N được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục các con Nguyễn Tấn D, sinh ngày 15/02/2015; Nguyễn Văn T, sinh ngày 26/8/2016; Nguyễn Quang K, sinh ngày 17/01/2020 và Nguyễn Thúy N1, sinh ngày 05/10/2022 đến lúc các con đủ 18 tuổi, trưởng thành.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hiện tại, chị Lê Thị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Sau khi ly hôn, anh Nguyễn Văn S có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: Tòa án không giải quyết trong vụ án này; dành quyền khởi kiện cho các đương sự bằng một vụ án khác khi có yêu cầu.
  2. Về án phí: Chị Lê Thị N phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (ba trăm nghìn) đồng chị N đã nộp đủ theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0012948 ngày 20/6/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An. Chị Lê Thị N đã nộp xong tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn.
  3. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị N có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. Anh Nguyễn Văn S có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, NA
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Văn Quỳnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 368/2024/HNGĐ-ST ngày 11/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 368/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger