Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 368/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10-5-2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Mỹ Kiều.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Hồng Hải
  2. Bà Hoàng Thị Kim Yến

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình – Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phan Thị Ngọc Mỹ – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 1095/2023/HNST ngày 21 tháng 12 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 116/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Trà Thị Ngọc B – sinh năm 1992; Địa chỉ: 947/3 đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
  • - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn V – sinh năm 1984; Địa chỉ: 947/3 đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đơn phương ly hôn đề ngày 21/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn B trình bày: Bà và Ông Nguyễn Văn V chung sống với nhau từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình (Giấy chứng nhận kết hôn số 107/2010, quyển số 01/2010 ngày 14/6/2010). Sau khi kết hôn, hai bên chung sống tại địa chỉ số 947/3 đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, bà và Ông V phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống. Do không thể tiếp tục chịu đựng cuộc sống chung với Ông V nên đến năm 2018 Bà B đã dọn ra ngoài sống riêng, để 03 con cho Ông V nuôi dưỡng và vợ chồng ly thân từ đó cho đến nay. Nhận thấy tình cảm với Ông V không còn và muốn ổn định cuộc sống nên Bà B yêu cầu được ly hôn đối với Ông V.

Về con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 10/02/2009; Nguyễn Đức N, sinh ngày 26/3/2010 và Nguyễn Đức T1, sinh ngày 06/10/2013. Bà B yêu cầu giao 03 con chung cho Ông V trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và về nợ chung: Không có.

Bị đơn Nguyễn Văn Việt mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập để cung cấp lời khai, thông báo và giấy triệu tập tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ nhưng đều vắng mặt không có lý do và cũng không có bất cứ ý kiến gì về vụ án.

Tại phiên tòa, Bà Trà Thị Ngọc B vẫn giữ nguyên ý kiến, yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với Ông V vì vợ chồng ly thân đã lâu, tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng không thể khắc phục. Về con chung: Bà yêu cầu giao 03 con chung cho Ông V trực tiếp nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung: Bà B khai không có

Ông Nguyễn Văn V vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2 không có lý do.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:

  • - Việc chấp hành pháp luật của Hội đồng xét xử là đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • - Tòa án thụ lý vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, quan hệ pháp luật tranh chấp.
  • - Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.
  • - Về nội dung: Yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở, phù hợp pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày và tranh luận của các bên đương sự tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

  • - Về thẩm quyền giải quyết:

Nguyên đơn Trà Thị Ngọc Bích nộp đơn xin ly hôn với bị đơn Nguyễn Văn Việt. Ông V cư trú tại địa chỉ số 947/3 đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình theo qui định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

  • - Về sự có mặt của đương sự tại phiên tòa:

Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ lần thứ hai, Ông Nguyễn Văn V vẫn vắng mặt. Do đó, căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Ông Nguyễn Văn V.

[2] Về quan hệ hôn nhân, Hội đồng xét xử xét thấy:

Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn số 107/2010, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 14/6/2010 thì quan hệ hôn nhân của Bà Trà Thị Ngọc B và Ông Nguyễn Văn V là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ.

Theo Bà B trình bày: Bà B và Ông V chung sống không hạnh phúc do thường xuyên nảy sinh nhiều mâu thuẫn. Vợ chồng bất đồng quan điểm sống về mọi mặt nên không khắc phục được mâu thuẫn. Bà B và Ông V đã ly thân từ năm 2018 cho đến nay nên khó có cơ hội hàn gắn tình cảm. Xét thấy, trong quan hệ vợ chồng giữa Bà B và Ông V không còn sự quan tâm, chia sẻ và tôn trọng nhau, hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Phía Bà B kiên quyết xin ly hôn, Ông V không có mặt khi Tòa án triệu tập và cũng không có bất cứ ý kiến trình bày nào đối với yêu cầu ly hôn của Bà B, thể hiện Ông V không có thiện chí hàn gắn tình cảm gia đình. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu ly hôn của Bà B là có căn cứ nên chấp nhận.

Về quan hệ con chung: Có 03 con chung là Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 10/02/2009; Nguyễn Đức N, sinh ngày 26/3/2010 và Nguyễn Đức T1, sinh ngày 06/10/2013. Bà B yêu cầu giao ba con chung cho Ông V trực tiếp nuôi dưỡng, Bà B không cấp dưỡng nuôi con chung. Bà B trình bày từ năm 2018 Bà B đã dọn ra ngoài sống riêng, để 03 con cho Ông V nuôi dưỡng. Theo xác minh của Công an Phường 11, quận Tân Bình thì hiện Ông V và ba con đang thực tế trú tại địa chỉ 947/3 đường L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả xác minh này phù hợp thông tin do Ủy ban nhân dân Phường 11, quận Tân Bình cung cấp cho Tòa án. Hội đồng xét xử có thể xác định được trẻ H, trẻ N và T1 đã chung sống với Ông V nhiều năm, đang trong độ tuổi phát triển và có nhiều thay đổi về tâm sinh lý nên cần có sự ổn định về nơi ở, học tập cũng như ổn định về tâm lý. Do đó, căn cứ vào các điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu giao ba con chung cho Ông V trực tiếp nuôi dưỡng của Bà B là có căn cứ chấp nhận. Về việc cấp dưỡng nuôi con, Bà B không cấp dưỡng nuôi con do Bà B chưa có nhà ở, thu nhập không ổn định. Từ khi hai bên ly thân, Ông V đã tự nuôi 03 con. Đồng thời, Ông V cũng không có yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà B khai không có. Ông V vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016, Bà B phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 đồng

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 4 Điều 147; điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 1 Điều 273; Khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các điều 56, 58, 81, 82, 83, 84, 107, 110, 116, 117 Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016;

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, Bà Trà Thị Ngọc B:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Bà Trà Thị Ngọc B được ly hôn với Ông Nguyễn Văn V.
  • - Về quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao ba con chung là Nguyễn Thị Ngọc H, sinh ngày 10/02/2009; Nguyễn Đức N, sinh ngày 26/3/2010 và Nguyễn Đức T1, sinh ngày 06/10/2013 cho Ông Nguyễn Văn V trực tiếp nuôi dưỡng, Bà Trà Thị Ngọc B không cấp dưỡng nuôi con.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi.

Bà Trà Thị Ngọc B có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  • - Về tài sản chung và nợ chung: Bà B khai không có, Ông V không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

2. Án phí ly hôn sơ thẩm do Bà Trà Thị Ngọc B phải nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng được cấn trừ vào 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí do Bà B đã nộp theo biên lai số 0024313 ngày 14/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Quyền kháng cáo:

Bà Trà Thị Ngọc B được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Nguyễn Văn V được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp, Viện kiểm sát nhân dân cấp trên được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân TP.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Q.Tân Bình;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q.Tân Bình;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Mỹ Kiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 368/2024/HNGĐ-ST ngày 10/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 368/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger